CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác 1. Khái niệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác *Khái niệm năng lực giao tiếp Năng lực giao tiếp là một trong những năng lực cốt lõi của học sinh, cho phép họ sử dụng ngôn ngữ để truyền tải thông tin và thiết lập mối quan hệ với những người xung quanh. Trong quá trình học tập, năng lực giao tiếp giúp học sinh trao đổi kiến thức và thông tin về cuộc sống, từ đó đạt được các mục đích nhất định.
Năng lực giao tiếp giúp con người biết bày tỏ những suy nghĩ, tâm tư tình cảm của mình với người đối diện một cách cởi mở, thân thiện, không gây hại hay tổn thương ai, giúp con người biết cách giao tiếp và đánh giá tình huống trong đời sống hàng ngày. Mỗi một tình huống khác nhau sẽ có những cách giao tiếp khác nhau, một cách giao tiếp có thể được coi là thành công ở tình huống này nhưng lại không thành công ở một tình huống khác, vì thế con người cần có những lựa chọn sao cho phù hợp với hoàn cảnh. *Khái niệm năng lực hợp tác Theo Từ điển tiếng Việt (2000): hợp tác là cùng chung sức giúp nhau trong một công việc, trong một lĩnh vực hoạt động nào đó nhằm đạt được mục đích chung. Lương Phúc Đức trong luận văn thạc sĩ cho rằng: “Dạy học hợp tác là việc dùng các nhóm nhỏ học sinh trong dạy học, sao cho các thành viên trong nhóm cùng nhau làm việc, học tập để đạt được nội dung Toán và các kĩ năng xã hội.
Các em học sinh cùng nhau làm việc hướng đến mục đích chung” [2] Tác giả Đoàn Thị Thanh Phương cho rằng “Dạy học hợp tác là phương pháp dạy học trong đó, mỗi học sinh được học tập trong một nhóm, có sự cộng tác giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm để đạt đến mục đích chung”[4] 8 Trần Thị Bích Trà cho rằng “Dạy học hợp tác là một phương pháp dạy học, trong đó giáo viên tổ chức lớp học thành nhóm, các thành viên trong nhóm phải cùng nhau làm việc, hợp tác để thực hiện nhiệm vụ dạy học mà giáo viên đã giao, nhằm đạt được mục tiêu dạy học”.[7] Học hợp tác là phương pháp dạy học tập trung vào hoạt động tương tác giữa các cá nhân, trong đó có sự hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau. Kết quả của phương pháp này là người học sẽ tiếp thu kiến thức thông qua các hoạt động tương tác khác nhau, bao gồm tương tác giữa các học viên, giữa học viên và giáo viên, và giữa học viên và môi trường học tập. Giao tiếp và hợp tác là hai năng lực có mối quan hệ qua lại với nhau, hỗ trợ nahu, hình thành năng lực chung. Để phát triển năng lực hợp tác thì học sinh cần phải giao tiếp với nhau, ngược lại để giao tiếp thì cũng cần có sự hợp tác.
*Khái niệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực Dạy học theo hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học hướng tới mục tiêu phát triển tối đa phẩm chất và năng lực của người học, trong đó người học tự nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự định hướng, tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ của người dạy.Quá trình dạy học không nặng về tập trung trang bị kiến thức cho người học (HS học được những gì) mà chuyển sang dạy cho HS làm được những gì từ điều đã học, dựa trên nguyên lí: Học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. thông qua cách thức tổ chức các hoạt động học tập độc lập, tích cực, sáng tạo của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ hợp lý của giáo viên. *Khái niệm dạy học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác Dạy học học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS là việc hướng tới mục tiêu phát triển cho HS những kĩ năng giao tiếp và hợp tác cần thiết nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu giáo dục chung. Đặc điểm của dạy học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác Cũng như dạy học theo định hướng phát triển năng lực chung, dạy học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác bao gồm những đặc điểm chính như sau: 9 (1) Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác được thiết kế để phù hợp với sự đa dạng của học sinh.
Phương pháp này tập trung vào việc tận dụng sở thích, khả năng và kiến thức cơ bản của từng học sinh để cá nhân hóa quá trình học tập và đáp ứng nhu cầu của mỗi người. Thay vì chỉ tuân thủ các giờ học chung, học sinh có quyền lựa chọn môn học và cách học phù hợp với họ, bất kể địa điểm hay thời gian (như học trực tuyến hoặc học nhóm). Điều này giúp học sinh phát triển tối đa khả năng sẵn có của mình. Quan trọng nhất, phương pháp học này mang lại tự do và linh hoạt cho học sinh, loại bỏ sự không công bằng trong quá trình học tập.
Học sinh được coi là tâm điểm trong quá trình học và luôn có cảm giác thoải mái và dễ chịu. (2) Dạy học theo hướng phát triển năng lực giao tiếp và toán học tập trung vào khả năng của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức cần thiết và nâng cao khả năng thực hành, áp dụng những kiến thức đã học được. Kiến thức, kỹ năng và cách ứng xử được coi là nguồn tài nguyên quan trọng để học sinh có thể hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể và phát triển năng lực của mình. (3) Phương pháp giảng dạy tập trung vào phát triển năng lực xác định và đo lường kết quả học tập của học sinh dựa trên khả năng hiểu và áp dụng kiến thức môn học.
Học sinh sẽ chứng tỏ tiến bộ của mình thông qua việc thể hiện năng lực, không dựa vào thời gian cố định như học kỳ hoặc cấp học. (4) Phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển năng lực cho phép học sinh tự chủ trong việc tiếp nhận tài liệu học tập, bao gồm cả thời điểm và nhịp độ học tập. Qua đó, hình thức này khuyến khích khả năng làm việc độc lập của học sinh và giúp họ phát triển tối đa các kỹ năng để đạt được mục tiêu học tập. Cấu trúc của năng lực giao tiếp và hợp tác 1.
Năng lực giao tiếp *Cấu trúc của năng lực giao tiếp Theo Daniel Coste, năng lực giao tiếp bao gồm 04 thành phần: -Thành phần làm chủ ngôn ngữ gồm các kiến thức ngôn ngữ, các kỹ năng liên quan đến sự vận hành của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống cho phép thực hiện các phát ngôn; 10 -Thành phần làm chủ văn bản gồm các kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng liên quan đến diễn ngôn, các thông điệp với tư cách là một chuỗi tổ chức phát ngôn; -Thành phần làm chủ các yếu tố về phong tục gồm các kiến thức, kỹ năng liên quan đến tập quán, chiến lược, cách điều chỉnh trong trao đổi liên nhân theo đúng địa vị,vai vế và ý định của những người tham gia giao tiếp. -Thành phần làm chủ tình huống bao gồm các kiến thức và kỹ năng liên quan đến các yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến cộng đồng và sự lựa chọn của người sử dụng ngôn ngữ trong một hoàn cảnh cụ thể. Năng lực hợp tác *Cấu trúc của năng lực hợp tác NĂNG LỰC HỢP TÁC Tổ chức và lập kế hoạch Tham gia hoạt động Đánh giá hoạt động hợp tác hợp tác hợp tác Hình 1. Các thành tố của năng lực hợp tác - Tổ chức và lập kế hoạch HT: Thực hiện được nhiệm vụ tổ chức nhóm và lập kế hoạch HT, xác định rõ vai trò của mỗi thành viên trong nhóm, đồng thời, mỗi thành viên có thể hoán đổi vai trò cho các bạn để hỗ trợ nhau hoàn thành nhiệm vụ.
Từng thành viên dự kiến các công việc cụ thể, sắp xếp trình tự thời gian cũng như cách thức thực hiện công việc một cách hợp lý. - Tham gia hoạt động HT: Sau khi tổ chức và lập kế hoạch HT, mỗi thành viên tự giác hoàn thành nhiệm vụ được giao. HS trình bày kết quả thực hiện nhiệm vụ của cá nhân, lắng nghe, phản hồi ý kiến của các thành viên khác, giải quyết mâu thuẫn, từ đó, ghi chép, tổng hợp và viết được một bản báo cáo logic, có hệ thống. Theo nhóm tác giả, đây là thành tố quan trọng của NLHT bởi vì kết quả hoạt động HT của nhóm phụ thuộc vào quá trình tham gia hoạt động HT của các thành viên trong nhóm.
- Đánh giá hoạt động HT: HS đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của bản thân và các thành viên khác khi tham gia hoạt động nhóm dựa vào các tiêu chí đã đề ra 11 thông qua sản phẩm hoạt động của nhóm, từ đó, đưa ra được phương án cải tiến sản phẩm. [12] Theo tài liệu [8] năng lực GT và HT được xác định với các thành tố tương ứng với các chỉ số hành vi và mức độ biểu hiện ở bảng sau: Bảng 1. Bảng các thành tố, chỉ số hành vi và mức độ biểu hiện của năng lực GT và HT Thành tố Chỉ số hành vi Mức độ biểu hiện 1. Xác định M1: Xác định được một vài nhiệm vụ cần GT và mục đích nhiệm vụ cần HT, chưa diễn đạt được nhiệm vụ GT và HT thực hiện qua M2: Xác định được một vài nhiệm vụ cần GT và GT và HT HT, diễn đạt được nhiệm vụ.
M3: Xác định được các nhiệm vụ cần GT và HT, diễn đạt được các nhiệm vụ này. Tạo M1: Không biết cách thành lập nhóm, cần GV nhóm và lập nhóm GT và hướng dẫn hoàn toàn. kế hoạch HT M2: Thực hiện được nhiệm vụ tạo nhóm với sự cho hoạt hỗ trợ của GV. động GT và M3: Chủ động phối hợp việc tạo nhóm hiệu quả, HT các thành viên hoán đổi được vai trò cho nhau.
Lập kế M1: Nhiệm vụ của nhóm chưa xác định được hoạch cho hoạt đúng. Phân công nhiệm vụ chưa phù hợp với động GT và năng lực của các cá nhân trong nhóm. HT M2: Nhiệm vụ của nhóm được xác định đúng.