Phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong việc tổ chức dạy học giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất môn toán 12

Phương pháp tổ chức dạy học chuyên đề giá trị lớn nhất, nhỏ nhất toán 12 giúp phát triển năng lực giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo cho học sinh.

Chuyên ngành

Sư phạm Toán học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

121
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4. Giả thuyết nghiên cứu

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Phương pháp nghiên cứu

7. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Năng lực, năng lực toán học, năng lực giải quyết vấn đề

1.1.1. Năng lực

1.1.2. Năng lực toán học

1.1.3. Năng lực giải quyết vấn đề

1.2. Dạy học giải quyết vấn đề

1.3. Một số nghiên cứu về năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học Toán

1.4. Những khái niệm cơ bản

1.5. Vai trò, vị trí, nội dung của chủ đề GTLN- GTNN trong chương trình toán lớp 12

1.5.1. Vai trò, vị trí

1.5.2. SGK Giải tích 12 − chương trình Cơ bản

1.5.3. SGK Giải tích 12 − chương trình Nâng cao

1.6. Khái niệm dạy học tích hợp

1.7. Khảo sát thực tiễn về thực trạng dạy học giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất ở môn Toán 12

1.7.1. Mục đích khảo sát

1.7.2. Kết quả khảo sát

1.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG I

2. CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC GIÁ TRỊ LỚN NHẤT VÀ GIÁ TRỊ NHỎ NHẤT MÔN TOÁN 12

2.1. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp

2.1.1. Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng và tính thực tiễn

2.1.2. Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng

2.1.3. Nguyên tắc 3: Đảm bảo sự thống nhất giữa tính đồng loạt và tính phân hóa

2.1.4. Nguyên tắc 4: Đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức và yêu cầu phát triển

2.1.5. Nguyên tắc 5: Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của thầy và tính tự giác, tích cực, chủ động của trò

2.2. Các biện pháp nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong việc tổ chức dạy học giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất môn toán 12

2.2.1. Biện pháp 1: Hệ thống hoá những kiến thức cơ bản về GTLN, GTNN

2.2.2. Biện pháp 2: Tích hợp kiến thức về GTLN, GTNN với một số nội dung kiến thức khác

2.2.3. Biện pháp 3: Vận dụng kiến thức và kĩ năng giải bài toán GTLN và GTNN vào thực tiễn

2.2.4. Biện pháp 4: Xây dựng hệ thống bài tập GTLN, GTNN

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG II

3. CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.2. Tổ chức và nội dung của thực nghiệm sư phạm

3.2.1. Tổ chức thực nghiệm

3.2.2. Nội dung thực nghiệm

3.3. Kết quả thực nghiệm

3.3.1. Phân tích định tính

3.3.2. Kết quả định lượng

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG III

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Phát Triển Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề Toán 12

Giáo dục và đào tạo đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Nhiều quốc gia đã đạt được những bước tiến vượt bậc nhờ những thành tựu từ giáo dục. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, trọng tâm, ưu tiên trước nhất. Để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát triển tri thức và hội nhập quốc tế, nền giáo dục Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức. Điều này đòi hỏi sự phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau. Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, do đó, các cấp, các ngành cần quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đưa sự nghiệp giáo dục của nước ta lên những bước phát triển mới. Phát huy tính sáng tạo, tích cực của học sinh không phải là một vấn đề mới, nhưng luôn là vấn đề quan trọng, phương hướng chính để đào tạo giáo dục. Hiện nay, việc truyền đạt tri thức cho học sinh ở bộ môn Toán học đang là vấn đề cấp thiết. Vì thế, nhiều nghiên cứu và áp dụng nhiều phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại vào thực tiễn dạy học, nhưng vẫn chưa phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo. Trong việc giáo dục nhân cách của học sinh thông qua môn Toán vẫn còn thụ động trong việc tiếp thu các tri thức khoa học. Các định hướng đổi mới phương pháp dạy học vì thế mà cần đi sâu hơn nữa để đáp ứng được những yêu cầu. Hiện nay có rất nhiều phương pháp dạy học, quan điểm dạy học mới đang được phát hiện và nghiên cứu để áp dụng vào thực tiễn giảng dạy, một trong các phương pháp đó là: Năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ). Phương pháp dạy học “Giải quyết vấn đề” là một phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh. Đây là phương pháp có mục tiêu phù hợp với yêu cầu đổi mới của giáo dục nước nhà. Mục tiêu xây dựng nên những con người biết đặt và giải quyết vấn đề trong cuộc sống, nó phù hợp với giá trị chuẩn mực, là động lực của phát triển bền vững, nhanh chóng của đất nước. Môn Toán ở phổ thông có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục. Môn Toán giúp học sinh kiến tạo những tri thức, rèn luyện phát triển kỹ năng, phương pháp tư duy toán học vào các môn học khác cũng như đời sống. Trong chương trình môn Toán THPT, nội dung “Giá trị lớn nhất (GTLN) và giá trị nhỏ nhất (GTNN)” giữ vai trò chủ đạo, chiếm khối lượng lớn kiến thức và thời gian học của học sinh. Có thể khẳng định GTLN và GTNN có vai trò quan trọng trong toán học phổ thông. Đề tài "Phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong việc tổ chức dạy học giá trị lớn nhấtgiá trị nhỏ nhất môn toán 12" mong muốn đưa đề tài nghiên cứu này áp dụng vào thực tiễn giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường THPT.

1.1. Tầm Quan Trọng của GTLN GTNN trong Toán Học THPT

Nội dung chương trình toán 12 về giá trị lớn nhất (GTLN)giá trị nhỏ nhất (GTNN) không chỉ là một phần kiến thức mà còn là công cụ quan trọng giúp học sinh giải quyết nhiều vấn đề thực tế và trong các môn học khác. Chủ đề này giúp học sinh rèn luyện tư duy logic, khả năng phân tích và ứng dụng kiến thức vào các tình huống cụ thể. Từ đó, phát triển các năng lực toán học một cách toàn diện. Bên cạnh đó, việc nắm vững kiến thức về GTLN, GTNN còn tạo nền tảng vững chắc cho học sinh trong việc học tập các môn khoa học tự nhiên khác như Vật lý, Hóa học, và Sinh học.

1.2. Mục Tiêu của Nghiên Cứu về Phát Triển Năng Lực GQVĐ

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xây dựng một số biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) cho học sinh thông qua nội dung dạy học giá trị lớn nhất (GTLN)giá trị nhỏ nhất (GTNN) môn Toán 12. Đồng thời, nghiên cứu cũng hướng đến việc hệ thống một số bài toán tích hợp Vật lý, Hóa học có nội dung liên quan chủ đề GTLN, GTNN, giúp học sinh phát triển và nâng cao kỹ năng GQVĐ. Việc thiết kế các bài tập có nội dung liên quan đến GTLN, GTNN, thực hiện các biện pháp rèn luyện kỹ năng GQVĐ trong dạy học chủ đề, và vận dụng năng lực GQVĐ để tổ chức dạy học sẽ giúp học sinh phát huy tốt tính tích cực chủ động học tập. Từ đó, góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Toán theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh ở trường THPT hiện nay.

II. Thách Thức Thực Trạng Dạy Học GTLN GTNN Toán 12

Trong thực tiễn dạy học Toán ở phổ thông hiện nay, hoạt động đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh đã được giáo viên triển khai, nhưng chưa mang lại hiệu quả cao. Thực tiễn đó đặt ra vấn đề cần tiếp tục cải thiện các hình thức và công cụ đánh giá, sao cho việc đánh giá năng lực của học sinh trở thành một bộ phận quan trọng trong quá trình giáo dục. Vì vậy, cần có những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc xây dựng các tiêu chí, thiết kế công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học. Luận văn đề cập một số nghiên cứu về vấn đề dạy học năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học Toán. Trên cơ sở đó, xác định những định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo. Để bồi dưỡng và phát triển năng lực giải quyết vấn đề thông qua dạy học Toán cho học sinh phổ thông, cần xem xét năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề dựa trên biểu hiện của các kỹ năng trong hoạt động học tập ở phạm vi lớp học. Quan niệm đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học Toán ở trung học phổ thông theo hướng tiếp cận quá trình giải quyết vấn đề. Dạy học giải quyết vấn đề đã được ứng dụng vào các môn như Lý, Hóa, Sinh. Trong môn Toán, nghiên cứu dạy học giải quyết vấn đề có một số tác giả như Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Bá Kim. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đều đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về việc dạy học nêu vấn đề như khái niệm, bản chất, đặc trưng, những quy tắc, quy trình thực hiện, những ưu - khuyết điểm. Tất cả đều xem tình huống vấn đề là một nội dung then chốt của phương pháp dạy học này. Ngoài ra, các tác giả còn nhấn mạnh vào mối quan hệ tương tác giữa giáo viên và học sinh nhằm phát huy tính tích cực, hứng thú tìm tòi, sáng tạo của học sinh trong quá trình khám phá kiến thức. Các công trình nghiên cứu này sẽ là những cơ sở lý luận quan trọng để triển khai đề tài.

2.1. Khó Khăn trong Đánh Giá Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề

Một trong những khó khăn lớn nhất trong dạy và học GTLN, GTNN là việc đánh giá chính xác năng lực GQVĐ của học sinh. Nhiều giáo viên hiện nay vẫn sử dụng các phương pháp đánh giá truyền thống, chủ yếu dựa trên kết quả bài kiểm tra và bài tập về nhà. Các phương pháp này thường không đánh giá được quá trình tư duy, khả năng phân tích và áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế của học sinh. Để khắc phục tình trạng này, cần có các công cụ đánh giá đa dạng hơn, tập trung vào việc quan sát và ghi nhận quá trình giải quyết vấn đề của học sinh, đồng thời khuyến khích học sinh tự đánh giá và phản biện về quá trình học tập của mình.

2.2. Thiếu Tính Tích Hợp và Liên Hệ Thực Tiễn

Nội dung giảng dạy về GTLN, GTNN trong nhiều trường hợp vẫn còn mang tính trừu tượng và thiếu sự liên hệ với thực tiễn. Điều này làm giảm sự hứng thú và khả năng tiếp thu của học sinh. Để cải thiện tình hình, cần tăng cường việc tích hợp kiến thức về GTLN, GTNN vào các bài toán thực tế, các tình huống trong cuộc sống hàng ngày, hoặc các bài toán liên môn như Vật lý, Hóa học, Kinh tế. Việc này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về ứng dụng của kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy sáng tạo và giải quyết các vấn đề phức tạp.

III. Cách Hệ Thống Hóa Kiến Thức GTLN GTNN Hiệu Quả Toán 12

Biện pháp này nhằm hệ thống, cấu trúc các nội dung kiến thức cơ bản, cốt lõi nhất về giá trị lớn nhất (GTLN)giá trị nhỏ nhất (GTNN), giúp học sinh hiểu rõ, nắm vững các kiến thức cơ bản về GTLN, GTNN, sẵn sàng cho việc vận dụng vào giải quyết các bài toán khác nhau có liên quan. Muốn giải được các bài tập về GTLN, GTNN thì điều quan trọng đối với học sinh đó là phải nắm vững được các khái niệm, quy tắc, công thức. Do vậy, để góp phần giúp học sinh phát triển năng lực GQVĐ, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản về GTLN, GTNN. Biện pháp này được xây dựng dựa trên cơ sở nắm vững các kiến thức về GTLN, GTNN là yêu cầu cần phải có để giúp học sinh giải được toán.

3.1. Củng Cố Kiến Thức Cơ Bản Qua Từng Tiết Học

Trong từng tiết học, giáo viên cần dành thời gian để củng cố kiến thức đã học. Điều này có thể thực hiện thông qua việc đặt câu hỏi ôn tập, giải bài tập mẫu, hoặc tổ chức các hoạt động trò chơi nhỏ liên quan đến kiến thức đã học. Đặc biệt, giáo viên cần hệ thống lại những kiến thức mà học sinh cần phải nắm được từng chương thông qua tiết ôn tập. Công việc này là hết sức cần thiết đặc biệt là với việc dạy học theo phương pháp GQVĐ. Học sinh nắm được kiến thức cơ bản thì mới phát hiện ra được vấn đề cần giải quyết và giải quyết chúng chính xác và nhanh nhất.

3.2. Nhấn Mạnh Các Định Nghĩa Quy Tắc Công Thức Quan Trọng

Nội dung này nhằm làm cho học sinh nắm được một cách vững chắc các định nghĩa, định lý, tính chất và công thức. Giáo viên cần làm cho học sinh không bị rối, không biết nên sử dụng phương pháp đạo hàm hay sử dụng định nghĩa để tìm GTLN, GTNN.

IV. Tích Hợp Kiến Thức GTLN GTNN Môn Học Khác Toán 12

Biện pháp này thực hiện việc tăng cường huy động các kiến thức khác nhau nhằm giúp cho học sinh có nhận thức, khả năng uyển chuyển trong nhận dạng bài toán, vận dụng những kiến thức cần thiết để giải bài tập toán bằng nhiều cách khác nhau. Bước đầu hình thành năng lực nhận diện và giải quyết vấn đề.

4.1. Vận Dụng Kiến Thức Vật Lý Hóa Học Vào Bài Toán GTLN GTNN

Giáo viên có thể đưa ra các bài toán liên quan đến chuyển động, công suất (Vật lý) hoặc nồng độ dung dịch, hiệu suất phản ứng (Hóa học) và yêu cầu học sinh sử dụng kiến thức về GTLN, GTNN để giải quyết. Điều này giúp học sinh thấy rõ hơn về ứng dụng của toán học trong các môn khoa học khác.

4.2. Ứng Dụng GTLN GTNN Trong Kinh Tế và Đời Sống Hằng Ngày

Các bài toán về tối ưu hóa lợi nhuận, chi phí, diện tích, thể tích trong các hoạt động kinh doanh, sản xuất, hoặc các vấn đề liên quan đến phân bổ nguồn lực, thiết kế sản phẩm cũng là những ví dụ điển hình. Điều này giúp học sinh nhận thấy sự gần gũi và hữu ích của toán học trong cuộc sống.

V. Vận Dụng Kiến Thức và Kỹ Năng GTLN GTNN Thực Tiễn

Liên hệ kiến thức và kỹ năng giải bài toán GTLN, GTNN với các tình huống thực tiễn giúp học sinh cảm thấy hứng thú hơn với môn học, đồng thời phát triển khả năng tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Đây là một bước quan trọng trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh.

5.1. Xây Dựng Các Bài Toán Thực Tế Gần Gũi Với Học Sinh

Các bài toán có thể liên quan đến việc thiết kế vườn hoa, xây dựng nhà cửa, tính toán chi phí sinh hoạt, hoặc lập kế hoạch tài chính cá nhân. Các bài toán này nên được trình bày một cách sinh động, hấp dẫn và có tính thách thức để kích thích sự tò mò và hứng thú của học sinh.

5.2. Tổ Chức Các Hoạt Động Thực Hành Dự Án Nhỏ

Các hoạt động thực hành có thể là việc đo đạc, tính toán diện tích, thể tích các vật thể xung quanh, hoặc thực hiện các thí nghiệm đơn giản để tìm ra giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của một đại lượng nào đó. Các dự án nhỏ có thể là việc thiết kế một khu vườn, lập kế hoạch kinh doanh, hoặc xây dựng mô hình tiết kiệm năng lượng.

5.3. Tạo Cơ Hội Cho Học Sinh Chia Sẻ Kinh Nghiệm Thực Tế

Giáo viên nên khuyến khích học sinh chia sẻ những kinh nghiệm thực tế của bản thân hoặc gia đình liên quan đến việc ứng dụng kiến thức về GTLN, GTNN. Điều này giúp các em thấy được sự hữu ích của môn học và có thêm động lực để học tập.

VI. Xây Dựng Hệ Thống Bài Tập GTLN GTNN Đa Dạng Toán 12

Việc xây dựng hệ thống bài tập đa dạng, phong phú và có mức độ khó tăng dần là một yếu tố quan trọng để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Hệ thống bài tập cần bao gồm các dạng bài tập cơ bản, nâng cao, tích hợp và ứng dụng thực tế để đáp ứng nhu cầu và trình độ của mọi đối tượng học sinh.

6.1. Phân Loại Bài Tập Theo Mức Độ Nhận Thức

Các bài tập nên được phân loại theo các mức độ nhận thức khác nhau như: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao. Điều này giúp giáo viên dễ dàng lựa chọn bài tập phù hợp với trình độ của từng học sinh và giúp học sinh rèn luyện tư duy một cách có hệ thống.

6.2. Tăng Cường Các Bài Tập Tích Hợp và Ứng Dụng Thực Tế

Các bài tập tích hợp giúp học sinh kết nối kiến thức giữa các môn học khác nhau, từ đó phát triển tư duy liên môn. Các bài tập ứng dụng thực tế giúp học sinh thấy được sự hữu ích của môn học trong cuộc sống.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực, năng lực toán học, năng lực giải quyết vấn đề 1. Năng lực Trong tâm lí học, năng lực là vấn đề trừu tượng.

Cho đến nay, khái niệm này có rất nhiều cách diễn đạt và tiếp cận khác nhau. Trong phần này chúng ta cùng xem xét khái niệm, từ một số cách tiếp cận và tài liệu khác nhau. Từ đó đi đến thống nhất cách hiểu và tiếp cận về năng lực nói chung và các năng lực cụ thể sẽ được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu này. Theo từ điển tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.

Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hành động nào đó với chất lượng cao. Còn từ điển của Đại học Harvad cho rằng, năng lực là những thứ mà một người phải chứng minh có hiệu quả như trong việc làm, vai trò, chức năng, công việc, nhiệm vụ [22]. Theo từ điển tâm lí học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Đó là sự thống nhất hữu cơ đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt kết quả mong muốn.

Để đáp ứng với một công việc nhất định nào đó cần có những kỹ năng, kiến thức, khả năng, hành vi. Những yếu tố đó được gọi là năng lực. Năng lực là một trong những yếu tố quan trọng để cá nhân có thể hoàn thành công việc nào đó hiệu quả hơn. Qua những ý kiến trên, ta có thể hiểu năng lực là một đặc tính có thể đo lường được của một người về kiến thức, kĩ năng, thái độ… cũng như các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ.

Cần phân biệt rõ năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Nếu như năng lực là một tổ hợp phẩm chất tương đối ổn định, tương đối cơ bản của cá nhân, cho phép nó thực hiện có kết quả một 5 hoạt động thì tri thức chỉ là những hiểu biết thu nhận từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình. Còn kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kỹ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức và việc mình đang làm. Năng lực được tạo nên từ tư chất tự nhiên và do luyện tập, học hỏi, làm việc mà có.

Năng lực tự nhiên là loại năng lực được nảy sinh trên cơ sở những tư chất bẩm sinh di truyền, không cần đến tác động của giáo dục và đào tạo. Nó cho phép con người giải quyết được những yêu cầu tối thiểu, quen thuộc đặt ra cho mình trong cuộc sống. Mức độ năng lực là hoàn toàn khác nhau giữa mỗi người và phụ thuộc vào vốn sống, sự tiếp thu kiến thức, sự hiểu biết trong từng lĩnh vực của từng cá nhân. Năng lực cũng chịu sự chi phối, sự ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố như con người, gia đình, môi trường làm việc, môi trường giáo dục… Theo tâm lí chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn.

Năng lực chung cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, khái quát hóa, tưởng tượng. Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng ở một trong những lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực kinh doanh, hội họa, âm nhạc, toán học,… Hai dạng năng lực chung và chuyên môn có mối quan hệ mật thiết. Năng lực chung chính là cơ sở, căn cứ của năng lực chuyên môn. Nếu năng lực chung phát triển thì càng dễ đạt tới năng lực chuyên môn.

Ngược lại, trong điều kiện nhất định, sự phát triển của năng lực chuyên môn sẽ tác động đến sự phát triển của năng lực chung. Năng lực toán học Qua chương trình môn Toán, học sinh cần hình thành và phát triển được năng lực toán học. Năng lực toán học bao gồm các thành tố cốt lõi sau: Năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giải 6 quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Tùy từng đối tượng học sinh, yêu cầu cần đạt của từng khối lớp, năng lực toán học của mỗi học sinh được biểu hiện ở các mức độ khác nhau.

Dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh là chuyển đổi từ việc “học sinh cần phải biết gì” sang “phải biết và có thể làm gì” trong các tình huống và bối cảnh khác nhau. Vì vậy dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh làm trung tâm và giáo viên là người hướng dẫn, giúp các em chủ động trong việc đạt được năng lực theo yêu cầu đặt ra, phù hợp với đặc điểm cá nhân. Các biểu hiện của năng lực toán học Thứ nhất, năng lực tư duy và lập luận toán học. Biểu hiện của năng lực này là học sinh thực hiện được các hành động: so sánh; phân tích; tổng hợp; đặc biệt hóa; khái quát hóa; tương tự; quy nạp; diễn dịch.

Chúng chỉ ra được chứng cứ, lí lẽ và biết lập luận hợp lí trước khi kết luận. Nó giúp chúng ta giải thích hoặc điều chỉnh cách thức giải quyết vấn đề về phương diện toán học. Thứ hai, năng lực mô hình hóa toán học. Biểu hiện của năng lực này là học sinh thực hiện được các hành động: sử dụng các mô hình toán học (gồm công thức, phương trình, bảng biểu, đồ thị,…) để mô tả các tình huống đặt ra trong các bài toán thực tế.

Như vậy, thông qua tìm hiểu, phân tích vấn đề chưa có cách giải quyết, học sinh tìm cách đưa vấn đề về mô hình toán học đã biết cách giải quyết, qua đó học sinh có cơ hội được phát triển năng lực mô hình hóa toán học. Thứ ba, năng lực giải quyết vấn đề toán học. Biểu hiện của năng lực này là học sinh thực hiện được các hành động như nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học. Cần đề xuất, lựa chọn được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề.

Người học cần sử dụng các kiến thức, kĩ năng toán học để giải quyết vấn đề đó. Thông qua quá trình phân tích, thảo luận và đưa ra phương án giải quyết của nhóm mình, học sinh có cơ hội được phát triển năng 7 lực, học sinh có cơ hội được phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học. Thứ tư, năng lực giao tiếp toán học. Biểu hiện của năng lực này là học sinh thực hiện được các hành động như nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được các thông tin toán học cần thiết được trình bày dưới dạng văn bản toán học hay do người khác nói hoặc viết ra.

Tiếp theo là trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác (với yêu cầu thích hợp về sự đầy đủ, chính xác). Năng lực này cũng biểu hiện sử dụng hiệu quả ngôn ngữ toán học (chữ số, chữ cái, kí hiệu, biểu đồ, đồ thị…) kết hợp với ngôn ngữ thông thường hoặc động tác hình thể khi trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng toán học trong sự tương tác (thảo luận, tranh luận) với người khác. Như vậy, thông qua hoạt động mua bán giả định, học sinh được cùng nhau thảo luận, trao đổi và đưa ra quyết định của mình đã tạo ra cơ hội cho học sinh được phát triển năng lực giải quyết vấn đề và năng lực giao tiếp toán học. Cuối cùng, năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán.

Biểu hiện của năng lực này là học sinh thực hiện được các hành động như biết tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các đồ dung, phương tiện trực quan thông thường, phương tiện khoa học công nghệ (đặc biệt là phương tiện sử dụng công nghệ thông tin), phục vụ cho việc học toán. Tiếp nữa là sử dụng thành thạo và linh hoạt các công cụ, phương tiện học toán, đặc biệt phương tiện khoa học công nghệ để tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề toán học (phù hợp với đặc điểm nhận thức lứa tuổi). Tóm lại, năng lực toán học được hiểu là đặc điểm tâm lí cá nhân, là hoạt động trí tuệ đáp ứng những yêu cầu của hoạt động toán học. Với mỗi người khác nhau thì năng lực học tập toán học cũng khác nhau.

Năng lực này được hình thành và phát triển trong quá trình học tập và rèn luyện của mỗi học sinh. Vì thế việc lựa chọn nội dung và phương pháp thích hợp sao cho từng học sinh đều được nâng cao dần về mặt năng lực là vấn đề quan trọng trong dạy học 8 toán. Năng lực giải quyết vấn đề Để hiểu được năng lực giải quyết vấn đề, ta cùng đi vào phân tích ví dụ sau: Một ngọn hải đăng đặt tại vị trí A có khoảng cách đến bờ biển AB = 5km .Trên bờ biển có một cái kho ở vị trí C cách B một khoảng 7km. Người canh hải đăng có thể chèo đò từ A đến M trên bờ biển với vận tốc 4km / h rồi đi bộ đến C với vận tốc 6km / h.

Vị trí của điểm M cách B một khoảng bao nhiêu để người đó đi đến kho nhanh nhất? Hướng dẫn học sinh Giáo viên hỏi học sinh bài toán yêu cầu tìm gì? Học sinh trả lời: Tìm quãng đường ngắn nhất để đi từ M đến B Giáo viên hỏi học sinh bài toán cho những dữ kiện gì? Học sinh trả lời: Khoảng cách từ ngọn hải đăng đến bờ biển, vị trí từ kho đến bờ điển. Cùng với đó là vận tốc chèo đò từ A đến M và vận tốc đi bộ đến C. Giáo viên đặt vấn đề cho học sinh gọi ẩn cho quãng đường BM Đặt BM = x(km) suy ra CM = 7 − x (km) với ( 0  x  7 ) 7−x Sau khi đặt ẩn, biểu diễn thời gian đi bộ từ M đến C là: tMC = (h). 6 Giáo viên tiếp tục hỏi học sinh, muốn tìm khoảng cách từ A → M áp dụng kiến thức gì? 9 Học sinh: áp dụng định lý Pi-ta-go cho tam giác vuông ABM .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ