MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sự phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực, điều đó tạo ra những thách thức rất lớn cho sự nghiệp giáo dục. Giáo dục theo định hướng phát triển năng lực không chỉ là xu hướng phổ biến trên thế giới mà đó cũng là mục tiêu của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục ở Việt Nam hiện nay. Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã nêu rõ “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ máy móc.
Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sơ để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông là sự phát triển năng lực của người học, từ đó nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển đất nước. Trong nhà trường phổ thông, ngoài việc trang bị kiến thức thì việc hình thành và phát triển năng lực (NL) cho người học đóng vai trò quan trọng. Nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển đều lựa chọn và xây dựng hệ thống các NL chung và NL đặc thù mà các bộ môn đều hướng tới.
Các NL được chọn làm NL cốt lõi của nhiều quốc gia đó là: NL tự học, năng lực giải quyết vấn đề (NL GQVĐ), NL hợp tác, NL giao tiếp và NL sử dụng công nghệ thông tin (CNTT)… Trong đó năng lực giải quyết vấn đề là một trong những NL cốt lõi nhất, cần hình thành và phát triển cho người học ở trường phổ thông. Năng lực giải quyết vấn đề đem lại nhiều cơ hội thực hành, phát triển khả năng tư duy, suy luận khoa học, kỹ năng phát hiện và giải quyết các vấn đề mới trong học tập và cuộc sống đặc biệt là những vấn đề về mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội loài người. Việc hình thành và phát triển cho học sinh (HS) NL này sẽ giúp các em luôn tự tin, thích ứng tốt với những thay đổi của cuộc sống. Môn Địa lí ở trường trung học phổ thông (THPT) có nhiều cơ hội để hình thành và phát triển NL GQVĐ cho học sinh.
Đây là một khoa học có tính liên ngành, nhiều nội dung gắn với thực tiễn của cuộc sống. Địa lí lớp 10 THPT cung cấp cho HS những kiến thức khái quát về địa lí tự nhiên đại cương và kinh tế xã hội đại cương. Thông qua giảng dạy trên lớp hình thành cho các em có ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 thức trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng xã hội. Ngoài học tập trên lớp các em còn tìm hiểu, khảo sát thực tế các vấn đề tự nhiên, KT-XH của địa phương thông qua hoạt động cá nhân hoặc hợp tác nhóm.
Như vậy, qua hoạt động đáp ứng sở thích học tập của HS với việc trao quyền lợi và trách nhiệm cho HS thông qua việc HS phải đương đầu với nhiệm vụ giải quyết vấn đề đặt ra. Vì vậy, chất lượng của việc học tập của HS sẽ được cải thiện một cách rõ rệt. Quá trình dạy học (DH) Địa lí ở trường trung học phổ thông hiện nay chưa chú trọng nhiều đến việc phát triển năng lực cho học sinh. Qua tìm hiểu thực tế ở trường phổ thông, phần lớn giáo viên (GV) rất quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học, tích cực ứng dụng CNTT trong dạy học đã đem lại hiệu quả nhất định góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Tuy nhiên, nhiều GV vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức, ít gắn với những ứng dụng thực tiễn hướng đến phát triển năng lực toàn diện cho học sinh. Xuất phát từ những lí do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường Trung học phổ thông” làm nội dung nghiên cứu cho luận án của mình. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục tiêu Nghiên cứu quy trình và các biện pháp tổ chức DH Địa lí 10 ở trường THPT nhằm phát triển NL GQVĐ cho HS góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng DH môn Địa lí, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục ở trường phổ thông hiện nay.
Nhiệm vụ Để hoàn thành mục tiêu đề ra, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển NL GQVĐ trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT. - Xác định các nguyên tắc và yêu cầu phát triển NL GQVĐ trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT. - Xác định các thành tố của NL GQVĐ trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT. - Đề xuất quy trình tổ chức dạy học Địa lí 10 nhằm phát triển NL GQVĐ cho HS.
- Đề xuất các biện pháp phát triển NL GQVĐ cho học sinh. - Thiết kế và tổ chức DH một số bài học trong chương trình Địa lí 10 nhằm phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 triển NL GQVĐ cho học sinh. - Tiến hành thực nghiệm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc áp dụng quy trình và các biện pháp DH nhằm phát triển NL GQVĐ cho học sinh. - Đưa ra kết luận và đề xuất các khuyến nghị nhằm phát triển NL GQVĐ cho HS, góp phần nâng cao chất lượng DH Địa lí ở trường THPT.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Quy trình và các biện pháp phát triển NL GQVĐ cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT. Phạm vi nghiên cứu - Đề tài tập trung nghiên cứu quy trình và các biện pháp tổ chức dạy học nhằm phát triển NL GQVĐ cho HS qua môn Địa lí 10 ở trường THPT (chương trình chuẩn). - Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng của việc DH Địa lí lớp 10 ở trường THPT theo hướng phát triển năng lực cho học sinh của các tỉnh vùng Tây Bắc: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu.
- Đối tượng thực nghiệm là HS lớp 10 ở một số trường THPT của các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu. Giả thuyết khoa học Nếu vận dụng đúng quy trình và các biện pháp tổ chức DH Địa lí 10, đảm bảo các nguyên tắc và yêu cầu DH thì sẽ phát triển được NL GQVĐ cho HS, góp phần nâng cao chất lượng DH ở trường THPT. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5. Trên thế giới 5.
Nghiên cứu dạy học theo định hướng phát triển năng lực Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, với mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất, nhân cách, năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tiễn của cuộc sống và nghề nghiệp. Trên thế giới đã có nhiều công trình của các nhà khoa học nghiên cứu về phát triển năng lực như: công trình nghiên cứu của Miller (1990), “The assessment of clinical skills,competence,performance” đã đề xuất mô hình kim tự tháp thể hiện 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 mức độ khác nhau của mục đích dạy học theo hướng tiếp cận NL bao gồm: “kiến thức, kĩ năng, thể hiện và hành động”. Theo mô hình này, ở mức thấp nhất người học đạt được kết quả về kiến thức và kĩ năng, ở mức độ cao hơn, người học thể hiện được NL và hành động thực tế phù hợp với NL của mình [97].
Trong cuốn sách Franz E. Weinert, viện Max Planck về tâm lí, Munich Đức (1999), “Definition and Selection of Competencies Concepts of Competence” (Định nghĩa và lựa chọn các năng lực, khái niệm năng lực) đã đưa ra khái niệm năng lực, NL nhận thức chung, NL nhận thức chuyên ngành, mô hình NL nghề nghiệp, khuynh hướng NL nhận thức và NL hành động. Tác giả cũng đã tổng quan về các cách định nghĩa khác nhau về NL, các vấn đề lí thuyết và thực tiễn trong sử dụng một cách khoa học của khái niệm về năng lực [114]. Tổ chức các nước kinh tế phát triển - OECD (2005), đã thực hiện một nghiên cứu bài bản về các NL cần đạt của HS trong thời kỳ kinh tế tri thức: Definition and selectinon of key competencies.
Nghiên cứu này đã đưa ra khái niệm về năng lực “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công một nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [89]. Các nước OECD cũng đã nghiên cứu và lựa chọn các NL then chốt để hình thành và phát triển cho người học. Năng lực then chốt được hiểu là những NL chủ chốt mà một cá nhân cần có chứ không chỉ là kiến thức và kỹ năng [99]. Chương trình giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới đã chú trọng phát triển các NL.
Chương trình Ô-xtrây-li-a đã đưa ra các năng lực: NL biết đọc, biết viết; NL tính toán; NL công nghệ thông tin; NL tư duy phê phán và sáng tạo; NL hành vi; NL cá nhân và xã hội; NL hiểu các nền văn hóa khác nhau. Từ các NL chung này được tích hợp vào trong giảng dạy các môn học, môn Địa lí các NL được tích hợp: NL biết đọc, biết viết; NL tính toán; NL công nghệ thông tin; NL tư duy phê phán và sáng tạo; NL hành vi; NL hiểu các nền văn hóa khác nhau. Chương trình giáo dục của Cộng hòa Liên bang Đức: Ngoài NL chung, các NL được thể hiện trong môn Địa lí: NL về kiến thức; NL định hướng không gian; NL tổ chức thông tin; NL giao tiếp; NL đánh giá; NL hành động. Chương trình giáo dục Quesbec của Canada với mục tiêu là giúp HS tự chủ, có bản sắc cá nhân, có thể tự thiết lập mục đích cho cuộc sống và chuẩn bị cho các em đóng góp cho xã hội.
Những mục tiêu này phản ánh sứ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 mệnh của nhà trường phổ thông và được thể hiện qua 4 nhóm và 9 NL lớn cần phát triển cho HS: nhóm NL trí tuệ, NL phương pháp, NL cá nhân và xã hội, NL giao tiếp [108].