đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Năng lực hợp tác: Nhu cầu xã hội ngày càng đòi hỏi cao ở con người, để thích nghi được với xu thế hội nhập toàn cầu, con người không chỉ được trang bị kiến thức, kĩ năng mà còn cần có năng lực hợp tác trong môi trường làm việc xuyên quốc gia. Mỗi tác giả có những cách tiếp cận năng lực tương đối khác nhau, có thể là tiếp cận năng lực theo các khía cạnh tổng thể hay chi tiết nhưng tựu chung lại, đều hướng đến một quan điểm năng lực là một kỹ năng cơ bản của con người, giúp con người hoàn thành một việc gì đó của cá nhân mình. Năng lực, tùy theo góc nhìn, mà được chia thành những năng lực cụ thể như năng lực xã hội hay năng lực cá nhân.
Trong luận văn này, tác giả lựa chọn định nghĩa năng lực theo quan điểm của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể quốc gia (2018). Đặc điểm của chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực DHPTNL là quá trình thiết kế, tổ chức và phối hợp giữa hoạt động dạy và hoạt động học, tập trung vào kết quả đầu ra của quá trình này. Trong đó nhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc một giai đoạn (hay một quá trình). Khái niệm này đã nói lên bản chất của DHPTNL, song còn mang tính khái quát.
DHPTNL nhấn mạnh vai trò chủ thể của người học trong quá trình tiếp thu tri thức. Người học phải tự giác, tích cực tham gia tìm kiếm, phát hiện, nêu vấn đề, trao đổi, phản bác, chứng minh, phân tích… rút ra nhận xét, kết luận của mình. GV là người nêu nhiệm vụ, truyền cảm hứng, hướng dẫn, gợi mở vấn đề, hỗ trợ và nêu ý kiến của mình khi cần thiết. DHPTNL tập trung vào 5 đặc điểm chính: - Thứ nhất, DHPTNL được thiết kế theo hướng phân hóa dựa trên hứng thú, nhu cầu, nền tảng kiến thức, sở thích và thế mạnh của HS, nó cho phép 10 người học cá nhân hóa, đa dạng hóa việc học tập để đáp ứng nhu cầu của bản thân theo những cách có lợi cho họ (nghĩa là ngoài số giờ lên lớp theo quy định, HS có quyền quyết định lựa chọn môn học, hình thức học ở bất kỳ đâu và bất kỳ thời điểm nào, có thể học ở nhà, học nhóm, câu lạc bộ… theo hình thức học trực tuyến qua email, video, audio, truyền hình trực tuyến, chia sẻ ứng dụng thông tin… để giúp HS phát triển tối đa những tiềm năng vốn có của mình.
Bởi vậy, nó mang đến sự tự do và linh hoạt cho tất cả các đối tượng HS, loại bỏ sự bất bình đẳng trong quá trình học tập. Nơi đó HS thực sự là trung tâm của quá trình học tập và có được cảm giác thoải mái hơn với trường học. - Thứ hai, các mục tiêu DH không chỉ nằm ở nội dung kiến thức cần phải truyền đạt mà còn nằm ở khả năng thực hành, vận dụng kiến thức mà người học phải đạt được. Kiến thức, kĩ năng, cách ứng xử sẽ là những “tài nguyên” để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nhằm hình thành và phát triển năng lực.
- Thứ ba, DHPTNL xác định và đo lường được “năng lực” đầu ra của HS, dựa trên mức độ làm chủ (nắm vững) các kiến thức môn học. HS thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình mà không dựa trên khoảng thời gian cố định như học kì, năm học, cấp lớp. Mặc dù DH truyền thống vẫn có thể đo lường được năng lực, nhưng chúng phải dựa vào thời gian, các môn học được sắp xếp theo cấp lớp vào từng kì học, năm học. Đây là đặc điểm quan trọng nhất.
-Thứ tư, trong DHPTNL, người học có thể chọn cách tiếp nhận các tài liệu học tập (từ văn bản, video hoặc âm thanh), kể cả thời điểm, nhịp độ học tập và nơi họ học. Điều đó khuyến khích sự độc lập và tự chủ trong quá trình học tập, phát triển các kĩ năng để đạt được các mục tiêu học tập. - Thứ năm, hoạt động học tập và cấu trúc khóa học cho phép người học chịu trách nhiệm cho việc học của bản thân. Tuy nhiên, DHPTNL đòi hỏi ở HS sự kiên trì, nỗ lực và khả năng vượt qua những khó khăn cũng như những thất bại tạm thời trong quá trình học tập.
11 GV cũng phải làm việc vất vả hơn để có thể giúp HS đạt được các chuẩn đầu ra về năng lực. Năng lực đọc hiểu và phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông 1. Đọc hiểu văn bản và dạy học đọc hiểu văn bản Trong các năng lực văn học, năng lực đọc hiểu được xem là quan trọng nhất vì tất cả các năng lực khác đều liên quan đến đọc hiểu, được phát triển trên nền tảng của đọc hiểu văn bản. Từ cuối thế kỉ XX, các nước phương Tây và một số nước Châu Á có nền GD hiện đại (Nhật Bàn, Hàn Quốc, Singapore…) đã rất chú trọng việc dạy đọc hiểu.
Nhiều công trình nghiên cứu sâu tập trung vào phát triển kĩ năng đọc hiểu cho HS đồng thời với việc thay đổi vai trò của GV. Thái độ học tập chủ động tích cực của HS song song với quyền tự chủ của GV đã góp phần cải thiện năng lực văn học cho HS một cách rõ rệt. Đọc hiểu là hành động sử dụng các tri thức công cụ và các kĩ năng khác để tiếp nhận và nắm bắt các tầng nghĩa của văn bản (Tư tưởng của tác giả, các lớp hiển ngôn và hàm ngôn, cảm xúc chủ đạo, cấu trúc văn bản, đặc điểm ngôn từ nghệ thuật, các thủ pháp nghệ thuật, giá trị của văn bản đối với nhận thức và tình cảm của người đọc…). Năng lực đọc hiểu văn bản có những biểu hiện cụ thể như sau: HS nắm được tri thức lí luận văn học - công cụ để đọc hiểu văn bản văn học: bản chất và giá trị của văn học, thể loại, thi pháp, phong cách, tiếp nhận… Có kiến thức về văn học Việt Nam, văn học nước ngoài: các thời kì phát triển của văn học, đặc điểm, thành tựu, các tác giả, tác phẩm tiêu biểu.
Có kiến thức về văn bản: Các dạng kết cấu văn bản, đoạn văn bản, liên kết câu, đoạn, phong cách văn bản; Kiến thức ngôn ngữ: từ, câu, các biện pháp tu từ… Biết vận dụng các biện pháp, phương pháp, kĩ thuật, chiến thuật đọc hiểu văn bản. 12 Có khả năng ứng dụng tri thức văn học vào tìm hiểu, nắm bắt các giá trị sống thực tế. Phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh trong dạy học ngữ văn ở trường THPT a. “Tầm đón nhận” của học sinh trung học phổ thông HS trung học thuộc giai đoạn độ tuổi vị thành niên.
Đây là độ tuổi đang diễn ra sự thay đổi rất lớn về sự phát triển trên tất cả các mặt: thể chất, nhận thức, xúc cảm và xã hội để hướng tới sự trưởng thành. Hoàn thành cấp trung học cơ sở, bước vào cấp THPT cũng là lúc HS chuyển từ nửa đầu của độ tuổi vị thành niên sang nửa cuối của độ tuổi này, vì vậy, mức độ phát triển về các mặt đã ở mức cao hơn, tiến dần đến sự hoàn thiện, sẵn sàng với những nhiệm vụ học tập phức tạp, đòi hỏi tư duy trừu tượng, khả năng đọc phê bình… Với họ, các hình thức tương tác trong lớp học như hoạt động nhóm, thảo luận là những cơ hội tốt, mang lại động lực học tập, phát triển và khẳng định bản thân mạnh mẽ. Ngoài những đặc điểm trên, HS THPT còn tiêu biểu cho một “thế hệ NET” (NET generation) - thế hệ được làm quen với những thành tựu của thời đại kĩ thuật số từ độ tuổi rất nhỏ. Khi học trung học, đặc biệt cấp THPT, việc tiếp xúc với các VB không chỉ giới hạn ở giấy in hoặc việc tương tác, giao tiếp với nhau không chỉ là “mặt đối mặt” đã trở nên thường xuyên với HS.
Họ cũng được quyền chủ động, độc lập hơn trong việc tiếp cận nguồn thông tin khổng lồ luôn cập nhật đến từng giây phút, vì vậy, cơ hội PTNL đọc hiểu lớn lên cùng những thử thách. Như vậy, từ những đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm bối cảnh xã hội làm nên “tầm đón nhận” riêng, có thể khẳng định, nếu có môi trường phù hợp, NLĐH VB của HS THPT sẽ được phát triển ở mức độ cao so với mức độ cơ bản đã đạt được sau khi hoàn thành cấp trung học cơ sở, trong đó HS đã đủ điều kiện để: Có khả năng nhận biết và nắm vững các thông tin và đặc điểm (cấu trúc, nội dung) đối với các VB có độ phức tạp cao; Có khả năng tiếp cận, phân tích 13 sâu sắc các thông tin quan trọng, các thông tin ngầm ẩn của VB kết hợp với vốn hiểu biết, sự trải nghiệm phong phú để kiến tạo nên những ý nghĩa đa cấp độ; Có khả năng phản hồi mạnh mẽ, đánh giá ý nghĩa VB thông qua quan điểm cá nhân đậm nét và những cảm xúc mãnh liệt; Có thể vận dụng hiểu biết về VB vào thực tiễn một cách linh hoạt, thành thạo; Sở hữu và biết cách huy động, sử dụng nguồn chiến thuật ĐH phong phú, có khả năng siêu nhận thức phát triển, duy trì động cơ đọc để nhập thân và thấu hiểu những VB chứa nhiều “thử thách”. Một đặc điểm nữa là nếu xét về cấu trúc năng lực ĐH văn bản, với HS THPT, cấu trúc bề sâu đóng vai trò quan trọng bởi nó sẽ quyết định sự trưởng thành của HS với tư cách bạn đọc độc lập. Trong đó, thành tố động cơ và sự nhập thân có thể coi là quyết định.
Tác động của dạy học sử thi đến quá trình phát triển năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh THPT lớp 10 Từ quan điểm lí luận chung mang tính nền tảng: giáo dục, dạy học có vai trò chủ đạo, định hướng và thúc đẩy sự phát triển; tính tích cực hoạt động và giao tiếp của cá nhân có vai trò quyết định đối với sự phát triển tâm lí con người. Có thể nói, dạy học và dạy học sử thi có tác động rất lớn đến quá trình phát triển năng lực đọc hiểu văn bản của HS khi tổ chức được các hoạt động học tập và kích thích HS tích cực tham gia.