CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm năng lực Năng lực là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latin đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực: Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), năng lực có nghĩa là: Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao [34]. Theo Từ điển Giáo dục học, “năng lực là khả năng được hình thành hoặc phát triển, cho phép một con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp. Năng lực được coi như khả năng của con người khi đối mặt với tình huống mới, gợi lại tin tức và kỹ thuật được sử dụng trong những trải nghiệm trước đây”[18].
Tác giải Phạm Minh Hạc (2006) định nghĩa năng lực là sức mạnh, sức làm việc, sức giải quyết vấn đề, sức đảm đang một nhiệm vụ… ở con người. Đó là năng lực sống (năng lực tồn tại, sản xuất và phát triển), năng lực hình thành và lao động, nghỉ ngơi, vui chơi, sáng tạo. Trong cuộc sống con người có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động thì có bấy nhiêu lĩnh vực năng lực. Hay nói cách khác, theo định nghĩa năng lực của tác giả cũng thiên về khả năng của con người [16].
Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó như năng lực tư duy, năng lực tài chính hoặc là phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn đao tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao như năng lực chuyên môn, năng lực lãnh đạo. Hay theo tổ chức kinh tế các nước phát triển (OECD) định nghĩa thì “năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [47] Tác giả Đặng Thành Hưng trong Lý luận phương pháp và kỹ năng dạy học 15 định nghĩa “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhấ định, nhừm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [25]. Cũng ở nghiên cứu này tác giả cho rằng về mặt thực hiện, kĩ năng phản ánh năng lực làm, tri thức phản ánh năng lực nghĩ và thái độ phản ánh năng lực cảm nhận. Trong nội dung chính chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới đã định nghĩa năng lực là khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, thuộc tính tâm lý như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện thành công một loại công viên trong bối cảnh nhất định [3].
Mặc dù có những điểm khác nhau nhưng các ý kiến trên đều thống nhất ở điểm cốt lõi về “Năng lực”: đó là khả năng vận dụng tổng hòa kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị để giải quyết thành công những tình huống, những vấn đề trong cuộc sống. Hành động (làm) và thực hiện ở đây phải gắn với thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải là một cách làm máy móc. Một trong những đặc điểm của năng lực, đó là luôn tồn tại dưới hai hình thức: năng lực chung và năng lực riêng (còn gọi là chuyên biệt). Theo Bùi Minh Đức trong “Năng lực và vấn đề phân loại năng lực trong các nghiên cứu hiện nay”chương trình giáo dục ở nhiều nước trên thế giới đều lựa chọn cách phân loại này [4].
Năng lực chung (genera competence): là năng lực cơ bản thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học , liên quan đến nhiều môn học, do đó có nơi nó được gọi là năng lực xuyên chương trình (Cross – curricular competencies). Ngay trong năng lực chung cũng chia thành 3 phạm trù: Năng lực sử dụng các công cụ tương tác hiểu quả với môi trường (use tools for acteracting effectively with the envieroment), ví dụ như năng lực sử dụng công nghệ thông tin, năng lực sử dụng ngôn ngữ; Năng lực hoạt động tương tác trong các nhóm phức hợp (interact in heterogenous groups); Năng lực hoạt động một cách tự chủ (act autonomously) [4]. 16 Năng lực riêng (specific competence) là năng lực cụ thể, chuyên biệt, được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/ môn học nào đó, vì thế chương trình Québec gọi là năng lực môn học cụ thể (Subject – specific competencies) để phân biệt với năng lực xuyên chương trình – năng lực chung [4].
Cấu trúc của năng lực Các ngành dịch vụ khu vực AESEAN hiện nay đang đang xây dựng tiêu chuẩn năng lực chung (ASEAN Common Competency Standards – ACCS) với định nghĩa cho từng lĩnh vực bao gồm 3 loại năng lực theo phân công lao động: năng lực cốt lõi, năng lực chung và năng lực chức năng. Biểu hiện của các loại năng lực này cũng thể hiện ở 3 khía cạnh trong giáo dục: kiến thức, kĩ năng, thái độ [46]. Ta có mô hình cấu trúc năng lực như sau [49]: Hình 1. Mô hình chung cấu trúc năng lực Mô hình này cũng tương tự như mô hình năng lực ASK.
Đây là mô hình được sử dụng để quản lý nhân sự phổ biến nhất trên thế giới. ASK là viết tắt của Attitude – Skill – Knowledge, cụ thể hơn: Attitude (Phẩm chất/Thái độ): Thuộc về phạm vi cảm xúc, tình cảm, là cách cá nhân tiếp nhận và phản ứng là với thực tế, đồng thời thể hiện thái độ và động cơ với công việc. Ví dụ: trung thực, tinh thần khởi nghiệp,…; Skill (Kĩ năng): Thuộc về kĩ năng thao tác, là khả năng biến 17 kiến thức có được thành hành động cụ thể, hành vi thực tế trong quá trình làm việc của cá nhân. Ví dụ: kĩ năng tạo ảnh hưởng, kĩ năng quản trị rủi ro,…; Knowledge (Kiến thức): Thuộc về năng lực tư duy, là hiểu biết mà cá nhân có được sau khi trả qua quá trình giáo dục – đào tạo, đọc hiểu, phân tích và ứng dụng.
Ví dụ: kiến thức chuyên môn, trình độ ngoại ngữ,… Mô hình này được lấy ý tưởng của Benjamin Bloom (1956), là một trong những người xây dựng các thang đánh giá trong giáo dục theo định hướng phát triển năng lực với ba nhóm năng lực chính: phẩm chất/thái độ (Attitude), kĩ năng (skills), kiến thức(knowledge). Trong đó, kiến thức được hiểu là những năng lực về thu thập dữ kiệu, năng lực hiểu các vấn đề (comprehension), năng lực ứng dung (application), năng lực phân tích (analysis), năng lực tổng hợp (synthethis), năng lực đánh giá (evaluation). Đây là những năng lực cơ bản mà mỗi cá nhân cần hội tụ khi tiếp nhận một công việc. Công việc càng phức tạp thì cấp độ yêu cầu về năng lực này càng cao [49] Phẩm chất hay thái độ thường bao gồm các nhân tố thuộc về thế giới quan tiếp nhận và phản ứng lại các thực tế (receiving, responding to phenoma), xác định giá trị (valuing), giá trị ưu tiên.
Các phẩm chất và hành vi thể hiện thái độ của cá nhân với công việc, động cơ, cũng như những tố chất cần có để đảm nhận tố công việc (Harrow, 1972). Các phẩm chất cũng được xác định phù hợp với vị trí công việc [49]. Về kĩ năng, chính là năng lực thực hiện các công việc, biến kiến thức thành hành động. Thông thường kĩ năng được chia thành các cấp độ chính như: bắt chước (quan sát và hình vi khuôn mẫu), ứng dụng (thực hiện một số hành động bằng cách làm theo hướng dẫn), vận dụng (chính xác hơn với mỗi hoàn cảnh), vận dụng sáng tạo (trở thành phản xạ tự nhiên) (Dave,1975).
[49] Như vậy, ta có thể thấy, ở mỗi lĩnh vực, người ta có thể có các cách hiểu khác nhau về khái niệm năng lực, nhưng tựu chung lại, năng lực có thể hiểu đơn giản là khả năng thực hiện hành động của con người. Cụ thể hơn, ở đề tài này, chúng tôi đi theo cách hiểu của F. Năng lực của HS trung học phổ thông theo yêu cầu của CT Ngữ văn 2018 Theo “Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể” thì năng lực là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.37] Cũng trong chương trình ở mục III: Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và nội dung có quy định về những năng lực cốt lõi sau: Năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo; Năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất đinh: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán năng lực khoa học, năng lực cộng nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất [3].
Các năng lực này sẽ được hình thành và phát triển ở từng cấp học từ tiểu học đến THPT với từng mức độ đánh giá khác nhau thông qua các hoạt động giảng dạy và hoạt động giáo dục của giáo viên. Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, đối với riêng môn Ngữ văn, HS được tập trung phát triển toàn diện về cả phẩm chất và năng lực, bên cạnh việc phát triển các năng lực chung, nhiệm vụ của môn Ngữ văn tập trung vào phát triển hai năng lực đặc thù: năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ Năng lực văn học là một biểu hiện của năng lực thẩm mỹ, “là khả năng tiếp nhận, cảm thụ và tạo lập văn bản văn học. Khả năng tiếp nhận văn bản hiểu đơn giản là cách học sinh vận dụng kiến thức văn học và kinh nghiệm của bản thân vào việc đọc một văn bản qua đó giải mã các vẻ đẹp trong văn bản. Khả năng tạo lập văn bản văn học được coi là mức độ cao nhất của năng lực văn học khi HS biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học cùng với cảm xúc của bản thân 19 vào việc sáng tạo một văn bản văn học bằng hình thức ngôn từ có tính thẩm mỹ.
Đây chính là năng lực đặc trưng nhất của môn Ngữ văn.