phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, luận văn gồm có 3 chương. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Chương 2. Một số biện pháp phát triển năng lực cho học sinh THPT qua dạy học bài “Thơ tự do” Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Năng lực là khái niệm không còn xa lạ, được đề cập nhiều và hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo Từ điển Tiếng Việt “năng lực” được hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” khi đề cập tới năng lực của đối tượng nào đó hoặc “là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao.39] Tác giả Bernd Meier , Nguyễn Văn Cường cho rằng năng lực là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.” [Dẫn theo 4, tr.
Nhiều tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam quy năng lực vào những phạm trù khác như: Tài liệu hội thảo Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) tổng thể trong CTGDPT mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) xếp năng lực vào phạm trù hoạt động khi giải thích: “Năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định” [6, tr. Với phạm vi đề tài, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm năng lực trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018, khái niệm này được hiểu: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể” [3, tr. Theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể ban hành kèm theo thông tư 32/2018/TT – BGD&ĐT ngày 26 tháng 2 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục 9 và Đào tạo, mục tiêu của chương trình là giúp học sinh hình thành và phát triển những năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm là sự sử dụng tổng hoà kiến thức, kĩ năng, thái độ dưới dạng những hoạt động cần thiết để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ thực trong cuộc sống.
Đó là năng lực tự chủ, tự học, năng lực hợp tác, giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.30] Mỗi môn học có những mục tiêu cốt lõi dưới dạng các năng lực chuyên biệt. Mỗi năng lực cốt lõi có một vài năng lực thành phần. Mỗi năng lực thành phần được hình thành trên cơ sở các kiến thức, kĩ năng, thái độ. Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất [3, tr.
Về mục tiêu, Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (2018) đã xác định yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung: "Môn Ngữ văn góp phần hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học " [2, tr.25] đó là: - Năng lực tự chủ và tự học (Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; Tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Thích ứng với cuộc sống; Định hướng nghề nghiệp; Tự học, tự hoàn thiện). - Năng lực giao tiếp và hợp tác (Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp; Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội; điều chỉnh và hoá giải các mâu thuẫn; Xác định mục đích và phương thức hợp tác, Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân; Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác; Tổ chức và thuyết phục người khác; Đánh giá hoạt động hợp tác;…). - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (Nhận ra ý tưởng mới; Phát hiện và làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn giải pháp; Thiết kế và tổ chức hoạt động; Tư duy độc lập). Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn cũng quy định các yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của học sinh, trong đó với môn Ngữ văn có năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học.
Dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn 1. Dạy học theo hướng phát triển năng lực Dạy học theo hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kiến thức kĩ năng mà còn cần có sự hài hòa giữa đức, trí, thể, mĩ. Đồng thời người học cũng có khả năng vận dụng những kiến thức, kĩ năng vào thực tế đời sống. Qua đó, việc dạy học phát huy được tiềm năng vốn có, sự chủ động, sáng tạo của học sinh.
Không chỉ vậy, mỗi người học là một cá thể độc lập, khác nhau về trình dộ, nhu cầu, năng lực, sở thích…. Dạy học theo hướng phát triển năng lực giáo viên cần thừa nhận điều này và tìm ra những phương pháp tiếp cận phù hợp để phát triển năng lực và phẩm chất ở mỗi học sinh thông qua tổ chức các hoạt động học tập độc lập, sáng tạo, tích cực. Dạy học theo hướng phát triển năng lực có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, dạy học theo hướng phát triển năng lực được thiết kế theo hướng phân hóa dựa trên kiến thức nền tảng, sở thích, điểm mạnh của học sinh. Điều đó cho phép học sinh ngoài những môn học bắt buộc các em có quyền lựa chọn môn học, hình thức học, cách tiếp cận tài liệu, thời gian học tập.
Thứ hai, giúp học sinh có kiến tạo kiến thức cơ bản và nâng cao khả năng thực hành, vận dụng vào thực tiễn. Thứ ba, xác định và đo lường năng lực đầu ra của học sinh thông qua việc các em làm chủ kiến thức môn học. Dạy học theo hướng phát triển năng lực có nhiều ý nghĩa. Đó là đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, phát triển năng lực và phầm chất người học một cách toàn diện nhất; dạy học theo hướng này chú trong vận dụng kiến thức kĩ năng vào cuộc sống, nó giúp các em có thể thích ứng với những thay đổi của xã hội; tiết kiệm thời gian và công sức; giúp giờ học thêm sinh động, hiệu quả hơn.
Dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn Đối với môn Ngữ văn, các năng lực này được xác định trên cơ sở mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu môn học nói riêng (mục tiêu đó được nêu thành các mức độ dựa trên đặc điểm tâm lí và khả năng phát triển của học sinh), được thiết kế mức độ tăng dần theo các trình độ khác nhau tương ứng với các lớp và cấp học. 11 Chương trình Giáo dục phổ thông Ngữ văn (2018) không xây dựng theo định hướng nội dung mang tính hàn lâm mà chỉ cung cấp một số kiến thức phổ thông cơ bản về tiếng Việt và văn học nền tảng được tích hợp trong các hoạt động dạy đọc, viết, nói, nghe. Người học có thể sử dụng trong việc thực hành đọc, viết, nói và nghe các kiểu loại văn bản khác nhau. Chương trình chú trọng xây dựng hệ thống kĩ năng giao tiếp làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học.
Đây là quan điểm mới mẻ, thể hiện rõ sự đổi mới của chương trình. Môn Ngữ văn có mục tiêu hình thành và phát triển NL đặc thù cho HS. Đó là NL ngôn ngữ và NL văn học. NL ngôn ngữ chủ yếu thể hiện ở việc sử dụng Tiếng Việt, sử dụng ngôn ngữ tự nhiên qua giao tiếp hàng ngày, thể hiện qua các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe.
NL văn học là NL tiếp nhận, giải mã cái hay, cái đẹp của văn bản văn học, thể hiện chủ yếu ở việc HS biết đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật thông qua các văn bản văn học; nhận biết, lí giải, nhận xét và đánh giá những đặc sắc về hình thức văn bản văn học, từ đó biết tiếp nhận đúng và sáng tạo các thông điệp nội dung (nghĩa, ý nghĩa, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng). NL văn học còn thể hiện ở khả năng tạo lập văn bản, biết cách biểu đạt (viết và nói), kết quả cảm nhận, hiểu và lí giải giá trị thẩm mĩ của văn bản văn học, bước đầu có thể tạo ra được các sản phẩm văn học [9, tr 23]. NL văn học và NL ngôn ngữ khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ và đều thông qua các hoạt động chính là đọc, viết, nói và nghe. Muốn hình thành, phát triển năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ phải thông qua các hoạt động ấy theo các yêu cầu ở từng cấp học.
Yêu cầu cần đạt về năng lực ngôn ngữ được thể hiện như sau: Học sinh đọc trôi chảy, hiểu đúng các kiểu, loại văn bản khác nhau với nội dung và hình thức biểu đạt có độ phức tạp tăng dần qua từng lớp học. HS biết vận dụng kiến thức tiếng Việt và kiến thức về bối cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, triết học và quan niệm thẩm mĩ của các thời kì, những trải nghiệm của bản thân để hiểu các văn bản khó hơn (thể hiện qua dung lượng, độ phức tạp và yêu cầu đọc hiểu). Biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản, nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ. Biết so sánh văn bản này với văn bản khác.
12 Học sinh viết được các kiểu văn bản khác nhau, đảm bảo đúng cấu trúc, thể thức, các yêu cầu của kiểu văn bản. Bài viết thể hiện được cảm xúc, thái độ, những trải nghiệm và ý tưởng của cá nhân đối với những vấn đề đặt ra trong văn bản; thể hiện được một cách nhìn, cách nghĩ, cách sống mang đậm cá tính.