Phát triển năng lực HS qua dạy thơ tự do Ngữ văn 10 Cánh Diều

Phát triển năng lực học sinh THPT qua dạy học thơ tự do (Ngữ văn 10, tập hai, bộ Cánh diều). Phương pháp & kinh nghiệm giảng dạy hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2023

142
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực

1.2. Dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn

1.3. Thơ tự do và đặc trưng của thơ tự do

1.4. Cơ sở thực tiễn

1.5. Đặc điểm bài 7 – “Thơ tự do” trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập hai, Bộ Cánh diều.

1.6. Thực trạng dạy học phát triển năng lực cho HS qua dạy các bài thơ tự do (Theo SGK Ngữ văn 10, tập hai, Bộ Cánh Diều) ở trường THPT hiện nay

1.7. Tiểu kết chƣơng 1

2. CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC BÀI “THƠ TỰ DO” (SÁCH NGỮ VĂN 10, TẬP HAI, BỘ CÁNH DIỀU)

2.1. Nguyên tắc trong dạy học phát triển năng lực cho học sinh THPT qua bài “Thơ tự do”

2.2. Bám sát đặc trưng thể loại thơ và thể thơ tự do

2.3. Phù hợp đối tượng học sinh trung học phổ thông

2.4. Đảm bảo tính lịch sử

2.5. Đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả

2.6. Đảm bảo tính sáng tạo và thẩm mĩ

2.7. Một số biện pháp phát triển năng lực cho học sinh THPT qua dạy học bài “Thơ tự do.

2.8. Tổ chức các hoạt động dạy học bài “Thơ tự do”

2.9. Đa dạng các phương pháp, kĩ thuật, hình thức, phương tiện dạy học

2.10. Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp, đổi mới cách kiểm tra đánh giá

2.11. Tiểu kết chƣơng 2

3. CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm

3.3. Kế hoạch, phương pháp, nội dung, giáo án thực nghiệm

3.4. Kế hoạch thực nghiệm

3.5. Phương pháp thực nghiệm

3.6. Nội dung thực nghiệm

3.7. Giáo án thực nghiệm

3.8. Tiểu kết chƣơng 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Dạy Thơ Tự Do Lớp 10 Cánh Diều Năng Lực HS

Dạy học phát triển năng lực (phát triển năng lực học sinh) là xu thế tất yếu của thời đại, được thể hiện rõ trong Chương trình Giáo dục phổ thông (CTGDPT) môn Ngữ văn. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI nhấn mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học. Môn Ngữ văn đóng vai trò quan trọng, vừa là công cụ giao tiếp, vừa là cơ sở học tập các môn khác, đồng thời giáo dục những giá trị văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc, phát triển cảm xúc và tình cảm nhân văn. Chương trình Ngữ văn 2018 tiếp cận năng lực, lựa chọn kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm, văn bản, tích hợp nội dung tiếng Việt liên quan trong bài học, thiết kế các hoạt động giao tiếp đọc, viết, nói, nghe để hình thành và phát triển các năng lực đặc thù và năng lực chung cho HS. Thơ tự do là một nội dung quan trọng trong chương trình, giúp HS nhận biết, phân tích các giá trị về nội dung và nghệ thuật, đồng thời rèn luyện năng lực viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy thơ tự do hiện nay, giáo viên chưa chú trọng phát triển năng lực cho học sinh, vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, cách cảm, cách nghĩ của người giáo viên, chưa quan tâm đến hình thành năng lực người học. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh chỉ hiểu, cảm thụ những tác phẩm văn học theo cách mà giáo viên hướng dẫn, không có được năng lực cần thiết để tự thưởng thức, khám phá tác phẩm và vận dụng những năng lực ấy để sáng tạo tác phẩm văn chương. Theo nghiên cứu của Vương Thị Yến tại Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2023, việc phát triển năng lực cho HS đòi hỏi giáo viên thay đổi vai trò, không còn là người truyền thụ mà là người hướng dẫn, khơi gợi hứng thú và niềm yêu thích môn học Ngữ văn.

1.1. Vai Trò Của Thơ Tự Do Trong Ngữ Văn Lớp 10 Cánh Diều

Bài “Thơ tự do” trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 Cánh Diều hướng đến việc giúp HS nhận biết, phân tích được các giá trị về nội dung như chủ đề, cảm hứng, tư tưởng, cảm xúc, thái độ của chủ thể trữ tình. Đồng thời, học sinh cũng được trang bị năng lực về nghệ thuật thơ, có khả năng phân tích nhịp thơ, vần, hình ảnh, ngôn ngữ…Bên cạnh đó, bài học còn tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện năng lực viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá về một tác phẩm thơ. Khả năng giới thiệu, đánh giá tác phẩm thơ cũng được chú trọng phát triển trong quá trình dạy và học bài thơ tự do.

1.2. Năng Lực Cần Phát Triển Cho Học Sinh Khi Học Thơ Tự Do

Khi dạy thơ tự do, giáo viên cần tập trung vào việc phát triển các năng lực cho học sinh, bao gồm năng lực cảm thụ văn học, năng lực sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề. Năng lực cảm thụ văn học thể hiện ở khả năng cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ, đồng thời hiểu được ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm. Năng lực sáng tạo được thể hiện ở khả năng tự mình tạo ra những vần thơ, diễn đạt suy nghĩ, cảm xúc cá nhân một cách độc đáo. Năng lực giải quyết vấn đề thể hiện ở khả năng phân tích, đánh giá và đưa ra những nhận xét có giá trị về thơ tự do.

II. Thách Thức Dạy Thơ Tự Do Phát Triển Năng Lực HS Hiện Nay

Thực tế giảng dạy thơ tự do hiện nay (đặc biệt là các bài thơ tự do trong chương trình 2006), giáo viên chưa chú trọng phát triển năng lực cho học sinh. Bởi cách dạy vẫn nặng về việc truyền thụ kiến thức, cách cảm, cách nghĩ của người giáo viên về văn bản văn học, chưa quan tâm đến hình thành năng lực người học. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh chỉ hiểu, cảm thụ những tác phẩm văn học theo cách mà giáo viên hướng dẫn, các em không có được năng lực cần thiết để tự thưởng thức, khám phá tác phẩm và vận dụng những năng lực ấy để sáng tạo tác phẩm văn chương. Bên cạnh đó, một số giáo viên vẫn còn gặp khó khăn trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm của thơ tự do, dẫn đến hiệu quả giờ học chưa cao. Theo khảo sát thực tế, nhiều giáo viên vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống như diễn giảng, đọc chép, phân tích một chiều, ít tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào các hoạt động khám phá, sáng tạo.

2.1. Thiếu Hụt Về Phương Pháp Dạy Học Phát Triển Năng Lực

Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt về phương pháp dạy học phát triển năng lực. Nhiều giáo viên vẫn quen với cách dạy truyền thống, tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều, ít chú trọng đến việc tạo cơ hội cho học sinh chủ động khám phá, tìm tòi, sáng tạo. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, thiếu khả năng tự học, tự nghiên cứu và vận dụng kiến thức vào thực tế.

2.2. Khó Khăn Trong Đánh Giá Năng Lực Học Sinh Khi Học Thơ Tự Do

Việc đánh giá năng lực học sinh cũng là một thách thức không nhỏ. Khác với các bài thơ truyền thống có cấu trúc rõ ràng, thơ tự do thường có nhiều cách hiểu khác nhau, do đó việc đánh giá khả năng cảm thụ và phân tích của học sinh trở nên khó khăn hơn. Giáo viên cần có những phương pháp đánh giá linh hoạt, sáng tạo, không chỉ dựa vào kiến thức mà còn đánh giá khả năng tư duy, sáng tạo và vận dụng kiến thức của học sinh.

III. Phương Pháp Dạy Đọc Hiểu Thơ Tự Do Phát Triển Năng Lực

Để phát triển năng lực cho học sinh khi dạy thơ tự do, cần có quy trình dạy đọc hiểu hiệu quả, bao gồm các bước: trước khi đọc, trong khi đọc và sau khi đọc. Ở bước trước khi đọc, cần xác định mục đích đọc, huy động tri thức nền và trải nghiệm những tình huống liên quan. Trong khi đọc, cần đọc diễn cảm, tìm hiểu các chú thích, nhận diện bố cục, âm hưởng, giọng điệu và sử dụng các chiến thuật đọc hiểu. Sau khi đọc, cần phân tích sâu hơn các yếu tố đặc điểm của thơ tự do, phản hồi, bình luận, đánh giá, liên hệ, so sánh và tìm tòi, mở rộng. Theo nghiên cứu của Nguyễn Viết Chữ về phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể, khi dạy thơ tự do, cần phải xác định được “chất của loại trong thể”. Việc xác định sai thể loại sẽ khiến GV khi dạy rất lúng túng.

3.1. Hướng Dẫn Học Sinh Đọc Diễn Cảm Và Phân Tích Yếu Tố Thơ

Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm là một bước quan trọng trong quá trình dạy đọc hiểu thơ tự do. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ngắt nhịp, nhấn giọng, thể hiện cảm xúc phù hợp với nội dung và ý nghĩa của bài thơ. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần giúp học sinh nhận diện và phân tích các yếu tố của thơ như hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu, vần… từ đó hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

3.2. Khuyến Khích Học Sinh Liên Hệ So Sánh Và Kết Nối Với Thực Tiễn

Để giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về thơ tự do, giáo viên cần khuyến khích học sinh liên hệ, so sánh và kết nối tác phẩm với thực tiễn cuộc sống. Học sinh có thể liên hệ bài thơ với những trải nghiệm cá nhân, những vấn đề xã hội đang diễn ra, hoặc so sánh bài thơ với các tác phẩm khác cùng đề tài, từ đó rút ra những bài học ý nghĩa cho bản thân.

IV. Ứng Dụng Đa Dạng Hoạt Động Dạy Thơ Tự Do Lớp 10 Cánh Diều

Để phát triển năng lực cho học sinh, cần đa dạng các hoạt động dạy học, bao gồm hoạt động viết, nói và nghe. Trong hoạt động viết, cần hướng dẫn HS các bước tạo lập văn bản theo đặc điểm của kiểu bài nghị luận phân tích đánh giá một tác phẩm thơ. Trong hoạt động nói và nghe, cần tạo cơ hội cho học sinh trình bày ý kiến, trao đổi, tranh luận về các vấn đề liên quan đến tác phẩm. Theo Phan Trọng Luận, để phát triển năng lực Văn cho học sinh phải dựa trên mục tiêu thống nhất, cách tiếp cận đa dạng, mà cụ thể là phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù phải nằm trong tổng thể và sự tương tác tích cực giữa các khâu, các bước, các yếu tố trong quá trình dạy học.

4.1. Phát Triển Kỹ Năng Viết Văn Nghị Luận Về Thơ Tự Do

Viết văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ là một hoạt động quan trọng giúp học sinh phát triển khả năng tư duy, phân tích và diễn đạt ý kiến một cách logic, mạch lạc. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách xác định luận điểm, thu thập dẫn chứng, lập luận và trình bày bài viết một cách rõ ràng, thuyết phục.

4.2. Tăng Cường Hoạt Động Thảo Luận Trình Bày Và Phản Biện Về Thơ

Hoạt động thảo luận, trình bày và phản biện là cơ hội để học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, tư duy phản biện và làm việc nhóm. Giáo viên cần tạo ra một môi trường học tập cởi mở, khuyến khích học sinh tự do bày tỏ ý kiến, đặt câu hỏi và tranh luận về các vấn đề liên quan đến tác phẩm thơ tự do.

4.3. Tạo Môi Trường Sáng Tạo Với Các Bài Tập Thơ Tự Do

Hãy khuyến khích học sinh tạo ra một môi trường sáng tạo thông qua việc tham gia vào các bài tập thơ tự do. Học sinh có thể tự do viết về những gì họ quan tâm, thể hiện cảm xúc cá nhân thông qua ngôn ngữ thơ. Giáo viên có thể cung cấp các gợi ý, chủ đề hoặc kỹ thuật viết để kích thích sự sáng tạo của học sinh. Quan trọng là tạo điều kiện cho học sinh tự do khám phá và phát triển phong cách viết riêng của mình.

V. Nghiên Cứu Thực Nghiệm Dạy Thơ Tự Do Lớp 10 Cánh Diều

Để đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất, cần thực hiện thực nghiệm sư phạm. Mục đích thực nghiệm là kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp phát triển năng lực cho học sinh thông qua dạy học bài thơ tự do. Đối tượng thực nghiệm là học sinh lớp 10 tại các trường THPT. Kế hoạch thực nghiệm bao gồm lựa chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, xây dựng giáo án thực nghiệm và tiến hành dạy học theo giáo án đã xây dựng. Phương pháp thực nghiệm là so sánh kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để đánh giá hiệu quả của các biện pháp đề xuất.

5.1. So Sánh Kết Quả Giữa Lớp Thực Nghiệm và Lớp Đối Chứng

So sánh kết quả giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là một bước quan trọng trong quá trình đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất. Qua việc so sánh, chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh giữa hai lớp, từ đó đưa ra những kết luận chính xác về hiệu quả của các biện pháp đã áp dụng.

5.2. Phân Tích Đánh Giá Định Tính Về Quá Trình Học Tập

Ngoài việc so sánh kết quả định lượng, việc phân tích đánh giá định tính về quá trình học tập cũng rất quan trọng. Qua việc quan sát, phỏng vấn và thu thập ý kiến phản hồi từ học sinh và giáo viên, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về những khó khăn, thuận lợi và những thay đổi tích cực trong quá trình học tập, từ đó điều chỉnh và hoàn thiện các biện pháp dạy học.

VI. Kết Luận Phát Triển Năng Lực HS Qua Dạy Thơ Tự Do Cánh Diều

Dạy học thơ tự do lớp 10 theo hướng phát triển năng lực cho học sinh là một hướng đi đúng đắn và cần thiết. Để thực hiện thành công, cần có sự đổi mới về phương pháp dạy học, chú trọng đến việc tạo cơ hội cho học sinh chủ động khám phá, tìm tòi, sáng tạo và vận dụng kiến thức vào thực tế. Đồng thời, cần có sự quan tâm, hỗ trợ từ phía nhà trường, giáo viên và phụ huynh để tạo ra một môi trường học tập tích cực, hiệu quả cho học sinh. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học thơ tự do phù hợp với từng đối tượng học sinh, đồng thời tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên để nâng cao chất lượng dạy học.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Bồi Dưỡng Năng Lực Giáo Viên

Để thực hiện thành công việc dạy thơ tự do theo hướng phát triển năng lực cho học sinh, việc bồi dưỡng năng lực cho giáo viên là vô cùng quan trọng. Giáo viên cần được trang bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết để có thể thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập hiệu quả, đồng thời có khả năng đánh giá năng lực học sinh một cách chính xác và khách quan.

6.2. Đề Xuất Các Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Dạy Thơ Tự Do

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học thơ tự do phù hợp với từng đối tượng học sinh, đồng thời tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên để nâng cao chất lượng dạy học. Ngoài ra, cần có những nghiên cứu về việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học thơ tự do, cũng như việc kết hợp thơ tự do với các loại hình nghệ thuật khác để tạo ra những trải nghiệm học tập thú vị và bổ ích cho học sinh.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, luận văn gồm có 3 chương. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Chương 2. Một số biện pháp phát triển năng lực cho học sinh THPT qua dạy học bài “Thơ tự do” Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.

8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Năng lực là khái niệm không còn xa lạ, được đề cập nhiều và hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo Từ điển Tiếng Việt “năng lực” được hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” khi đề cập tới năng lực của đối tượng nào đó hoặc “là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao.39] Tác giả Bernd Meier , Nguyễn Văn Cường cho rằng năng lực là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.” [Dẫn theo 4, tr.

Nhiều tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam quy năng lực vào những phạm trù khác như: Tài liệu hội thảo Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) tổng thể trong CTGDPT mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) xếp năng lực vào phạm trù hoạt động khi giải thích: “Năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định” [6, tr. Với phạm vi đề tài, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm năng lực trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018, khái niệm này được hiểu: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể” [3, tr. Theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể ban hành kèm theo thông tư 32/2018/TT – BGD&ĐT ngày 26 tháng 2 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục 9 và Đào tạo, mục tiêu của chương trình là giúp học sinh hình thành và phát triển những năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm là sự sử dụng tổng hoà kiến thức, kĩ năng, thái độ dưới dạng những hoạt động cần thiết để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ thực trong cuộc sống.

Đó là năng lực tự chủ, tự học, năng lực hợp tác, giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.30] Mỗi môn học có những mục tiêu cốt lõi dưới dạng các năng lực chuyên biệt. Mỗi năng lực cốt lõi có một vài năng lực thành phần. Mỗi năng lực thành phần được hình thành trên cơ sở các kiến thức, kĩ năng, thái độ. Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất [3, tr.

Về mục tiêu, Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (2018) đã xác định yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung: "Môn Ngữ văn góp phần hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học " [2, tr.25] đó là: - Năng lực tự chủ và tự học (Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; Tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Thích ứng với cuộc sống; Định hướng nghề nghiệp; Tự học, tự hoàn thiện). - Năng lực giao tiếp và hợp tác (Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp; Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội; điều chỉnh và hoá giải các mâu thuẫn; Xác định mục đích và phương thức hợp tác, Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân; Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác; Tổ chức và thuyết phục người khác; Đánh giá hoạt động hợp tác;…). - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (Nhận ra ý tưởng mới; Phát hiện và làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn giải pháp; Thiết kế và tổ chức hoạt động; Tư duy độc lập). Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn cũng quy định các yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của học sinh, trong đó với môn Ngữ văn có năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học.

Dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn 1. Dạy học theo hướng phát triển năng lực Dạy học theo hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kiến thức kĩ năng mà còn cần có sự hài hòa giữa đức, trí, thể, mĩ. Đồng thời người học cũng có khả năng vận dụng những kiến thức, kĩ năng vào thực tế đời sống. Qua đó, việc dạy học phát huy được tiềm năng vốn có, sự chủ động, sáng tạo của học sinh.

Không chỉ vậy, mỗi người học là một cá thể độc lập, khác nhau về trình dộ, nhu cầu, năng lực, sở thích…. Dạy học theo hướng phát triển năng lực giáo viên cần thừa nhận điều này và tìm ra những phương pháp tiếp cận phù hợp để phát triển năng lực và phẩm chất ở mỗi học sinh thông qua tổ chức các hoạt động học tập độc lập, sáng tạo, tích cực. Dạy học theo hướng phát triển năng lực có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, dạy học theo hướng phát triển năng lực được thiết kế theo hướng phân hóa dựa trên kiến thức nền tảng, sở thích, điểm mạnh của học sinh. Điều đó cho phép học sinh ngoài những môn học bắt buộc các em có quyền lựa chọn môn học, hình thức học, cách tiếp cận tài liệu, thời gian học tập.

Thứ hai, giúp học sinh có kiến tạo kiến thức cơ bản và nâng cao khả năng thực hành, vận dụng vào thực tiễn. Thứ ba, xác định và đo lường năng lực đầu ra của học sinh thông qua việc các em làm chủ kiến thức môn học. Dạy học theo hướng phát triển năng lực có nhiều ý nghĩa. Đó là đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, phát triển năng lực và phầm chất người học một cách toàn diện nhất; dạy học theo hướng này chú trong vận dụng kiến thức kĩ năng vào cuộc sống, nó giúp các em có thể thích ứng với những thay đổi của xã hội; tiết kiệm thời gian và công sức; giúp giờ học thêm sinh động, hiệu quả hơn.

Dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn Đối với môn Ngữ văn, các năng lực này được xác định trên cơ sở mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu môn học nói riêng (mục tiêu đó được nêu thành các mức độ dựa trên đặc điểm tâm lí và khả năng phát triển của học sinh), được thiết kế mức độ tăng dần theo các trình độ khác nhau tương ứng với các lớp và cấp học. 11 Chương trình Giáo dục phổ thông Ngữ văn (2018) không xây dựng theo định hướng nội dung mang tính hàn lâm mà chỉ cung cấp một số kiến thức phổ thông cơ bản về tiếng Việt và văn học nền tảng được tích hợp trong các hoạt động dạy đọc, viết, nói, nghe. Người học có thể sử dụng trong việc thực hành đọc, viết, nói và nghe các kiểu loại văn bản khác nhau. Chương trình chú trọng xây dựng hệ thống kĩ năng giao tiếp làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học.

Đây là quan điểm mới mẻ, thể hiện rõ sự đổi mới của chương trình. Môn Ngữ văn có mục tiêu hình thành và phát triển NL đặc thù cho HS. Đó là NL ngôn ngữ và NL văn học. NL ngôn ngữ chủ yếu thể hiện ở việc sử dụng Tiếng Việt, sử dụng ngôn ngữ tự nhiên qua giao tiếp hàng ngày, thể hiện qua các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe.

NL văn học là NL tiếp nhận, giải mã cái hay, cái đẹp của văn bản văn học, thể hiện chủ yếu ở việc HS biết đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật thông qua các văn bản văn học; nhận biết, lí giải, nhận xét và đánh giá những đặc sắc về hình thức văn bản văn học, từ đó biết tiếp nhận đúng và sáng tạo các thông điệp nội dung (nghĩa, ý nghĩa, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng). NL văn học còn thể hiện ở khả năng tạo lập văn bản, biết cách biểu đạt (viết và nói), kết quả cảm nhận, hiểu và lí giải giá trị thẩm mĩ của văn bản văn học, bước đầu có thể tạo ra được các sản phẩm văn học [9, tr 23]. NL văn học và NL ngôn ngữ khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ và đều thông qua các hoạt động chính là đọc, viết, nói và nghe. Muốn hình thành, phát triển năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ phải thông qua các hoạt động ấy theo các yêu cầu ở từng cấp học.

Yêu cầu cần đạt về năng lực ngôn ngữ được thể hiện như sau: Học sinh đọc trôi chảy, hiểu đúng các kiểu, loại văn bản khác nhau với nội dung và hình thức biểu đạt có độ phức tạp tăng dần qua từng lớp học. HS biết vận dụng kiến thức tiếng Việt và kiến thức về bối cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, triết học và quan niệm thẩm mĩ của các thời kì, những trải nghiệm của bản thân để hiểu các văn bản khó hơn (thể hiện qua dung lượng, độ phức tạp và yêu cầu đọc hiểu). Biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản, nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ. Biết so sánh văn bản này với văn bản khác.

12 Học sinh viết được các kiểu văn bản khác nhau, đảm bảo đúng cấu trúc, thể thức, các yêu cầu của kiểu văn bản. Bài viết thể hiện được cảm xúc, thái độ, những trải nghiệm và ý tưởng của cá nhân đối với những vấn đề đặt ra trong văn bản; thể hiện được một cách nhìn, cách nghĩ, cách sống mang đậm cá tính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ