CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 1. Khái niệm hoạt động logistics Hiện nay toàn cầu hóa đang là xu hướng giúp cho nền kinh tế thế giới phát triển năng động và vững chắc hơn. Toàn cầu hóa thu hẹp khoảng cách giao thương giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới do đó nó sẽ kéo theo những nhu cầu mới về vận tải, kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ khác.Và logistics xuất hiện như một điều hiển nhiên, với những chức năng kinh tế chủ yếu và là một hoạt động mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp về mọi mặt.
Do đó, nghiên cứu về logistics là một việc làm cần thiết quan trọng nhằm năng cao tính cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải nói riêng cũng như các sàn thương mại điện tử nói chung. Trong những năm gần đây thuật ngữ Logistics được sử dụng một cách phổ biến nhưng lại rất ít người hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của từ này và cho đến nay chưa có định nghĩa đầy đủ nào về Logistics hay hoạt động logistics. Một định nghĩa về logistics được dùng tương đối phổ biến là “Logistics là có được thứ cần thiết tại địa điểm và thời gian đúng nhất” ( UNCTAD. 2004), Mặc dù được dùng tương đối phổ biến, song đây không phải là một định nghĩa chuẩn bởi vì nó không nói được nội hàm, nội dung các hoạt động, nghiệp vụ của khái niệm này - định nghĩa này chỉ cho chúng ta thấy được mục đích của logistics mà thôi.
Việc dùng định nghĩa này cũng là một trong các nguyên nhân làm cho logistics trở nên mơ hồ, dẫn đến sự thiếu hiểu biết hay nhầm lẫn về Logistics. Hay như “Logistics là nghệ thuật và khoa học giúp quản trị và kiểm soát dòng chảy của hàng hóa, năng lượng, thông tin và những nguồn lực khác” (Gattorna, J năm 1983). Các khái niệm nêu trên mới chỉ nêu được một phần giá trị của hoạt động Logistic, đây như một định nghĩa hẹp về Logistis coi hoạt động này gần như giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên bên cạnh đó có một số định nghĩa được coi là sát ý và khá đầy đủ về logistics.
Định nghĩa mới nhất mà Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals- CSCMP) Hoa Kỳ đưa ra năm 7 2001 là chính xác và toàn diện hơn cả, theo đó “Logistics được định nghĩa là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng “. Hay theo như GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân đã định nghĩa trong tài liệu “Logistics – Những vấn đề cơ bản” phát hành năm 2003 “Logistics là quá trình tối ưu hoá các hoạt động vận chuyển và dự trữ hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Logistics được mô tả là các hoạt động (dịch vụ) liên quan đến hậu cần và vận chuyển, bao gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hải quan… Logistics là tập hợp các hoạt động của nhiều ngành nghề, công đoạn trong một quy trình hoàn chỉnh. Tuy có những định nghĩa khác nhau về Logistics nhưng tất cả đều nói lên hoạt động Logistics là một quá trình lưu kho nguyên vật liệu, sản xuất, làm ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng cuối cùng.
Nhằm tối thiểu hóa các chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh trong tương lai để đáp ứng nhu cùa kịp thời (Just in time). Bên cạnh đó, Logistics không chỉ là dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu hay hàng hóa mà nó còn là thông tin, dịch vụ. Đặc điểm hoạt động Logistics Bất kỳ nhà lãnh đạo doanh nghiệp thành công sẽ thừa nhận tầm quan trọng quan trọng của logistics được tổ chức hiệu quả. Họ hiểu rằng thực hiện logistics liền mạch là một yếu tố quan trọng trong việc theo kịp nhu cầu của khách hàng và vượt trội hơn các đối thủ cạnh tranh.
Bất kể quy mô doanh nghiệp như nào, các chủ doanh nghiệp sẽ muốn phát triển và mở rộng hoạt động này ở cấp độ khu vực, quốc tế hoặc toàn cầu. Bất kể địa điểm kinh doanh hoặc ngành nghề là gì, logistics có thể giúp cắt giảm chi phí và thời gian dành để di chuyển sản phẩm từ điểm này sang điểm khác. Và hoạt động logistics gồm những đặc điểm sau: 1. Logistics là một quy trình Logistics là một quá trình điều đó có nghĩa Logistics không phải là một hoạt động riêng lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, liên quan mật thiết và tác động 8 qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước: nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện.
Mỗi một bước luôn đóng vai trò quan trọng là tiền đề, mắt xích trong cả hoạt động. Do đó Logistics xuyên suốt mọi giai đoạn, từ giai đoạn đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Logistics liên quan đến nguồn tài nguyên và yếu tố đầu vào Logistics có mối quan hệ mật thiết, liên quan đến tất cả nguồn tài nguyên yếu tố đầu vào cần thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Nguồn tài nguyên không chỉ có vật tư, nhân lực mà còn bao gồm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết công nghệ.
Ví dụ: khi bạn là chủ doanh nghiệp, bạn muốn sản xuất hàng hóa chất lượng trong điều kiện tối ưu, đồng thời giảm lãng phí, sai sót, hàng tồn kho và nhân công lao động. Đó là thế mạnh khi có thể phân bổ tốt các yếu tố đầu vào. Nắm rõ các thông tin này sẽ đảm bảo dòng nguyên liệu được kiểm soát cũng như tối ưu hóa các khâu, do đó sẽ làm tăng hiệu suất của công ty và loại bỏ các chi phí không cần thiết. Logistics gắn liền với hoạch định và tổ chức Hoạt động Logistics tồn tại ở cả hai khâu hoạch định và tổ chức của một doanh nghiệp: Hoạch định: Trong giai đoạn này, cần giải quyết các câu hỏi “ khi nào, ở đâu, bằng cách nào ” khi sử dụng nguyên vậy liệu đầu vào.
Do vậy tại đây xuất hiện vấn đề vị trí. Tổ chức: Ở giai đoạn thứ hai quan tâm tới việc làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên, các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng. Từ đây nẩy sinh vấn đề vận chuyển và lưu trữ. Giai đoạn đầu đòi hỏi phải giải quyết vấn đề tối ưu hoá vị trí của các nguồn tài nguyên.
Giai đoạn thứ hai liên quan đến việc tối ưu hoá các dòng vận động trong hệ thống. Trong thế giới, các quốc gia có địa hình cũng như điều kiện tự nhiên là khác nhau nhưng nhờ là sự kết hợp khéo léo và khoa học chuỗi các hoạt động như marketing, sản xuất, tài chính, vận tải, thu mua, dự trữ, phân phối…để đạt được mục tiêu phục vụ khách hàng tối đa với chi phí tối thiểu trong khoảng thời gian ngắn nhất. Phân loại Logistics 9 Trong những thập niên vừa qua, Logistics hoạt động mạnh mẽ và phát triển một cách nhanh chóng chiếm một phần không nhỏ trong tỷ trọng GDP của nền kinh tế thế giới. Sau đây ta có thể phân loại Logistics dựa vào những đặc điểm sau: 1.
Theo phạm vi, ngành nghề a. Logistics kinh doanh (Bussiness logistics): là một mắt xích trong hoạt động cung ứng, giúp sử dụng các nguyên vật liệu đầu vào cũng như nguồn lực hiệu quả, tiết kiệm và giảm thiểu các chi phí không liên quan trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Logistics quân đội (Military Logistics): là việc xây dựng và kết hợp các phương tiện, thiết bị hỗ trợ cho các trận đánh, chiến dịch của quân đội để mọi chiến lược tác chiến diễn ra hiệu quả và thuận lợi. Logistics sự kiện (Event logistics): là sự kết hợp các phương tiện kỹ thuật phù hợp cũng như nhân lực để triển khai một cách hiệu quả nhất các tổ chức, sự kiện theo đúng kế hoạch đề ra.
Logistics dịch vụ (Service logistics): là tập hợp các hoạt động thiết kế chương trình, phân phối nguồn lực, vật lực một các hợp lý nhằm mục đích hỗ trợ kịp thời các hoạt động kinh doanh, sản xuất 1. Theo vai trò của các bên tham gia a. 1PL (First Party Logistics hay Logistics bên thứ nhất): Logistics bên thứ nhất là một công ty hoặc cá nhân có hàng hóa của riêng họ và có thể vận chuyển chúng từ điểm này đến điểm khác. 1PL có thể sở hữu nhân lực và vật lực như máy móc, nhà xưởng, trang thiết bị xếp dỡ, … để tự mình thực hiện hoạt động logistics.
Hình thức này chủ yếu gồm hai bên nhận được lợi ích từ giao dịch - nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp và khách hàng cuối cùng. Điểm đặc biệt giúp 1PL khác so với các hình thức khác là không có người trung gian nào khác tham gia vào toàn bộ quá trình. 2PL (Second Party Logistics hay Logistics bên thứ hai): Logistics bên thứ 2 bao gồm vận chuyển hàng hóa từ một khu vực vận chuyển cụ thể của chuỗi cung ứng như đường sắt, đường bộ, đường biển hoặc đường hàng không. 2PL là những hãng hàng không dựa trên tài sản của mình cũng như vận chuyển bằng cách sử dụng tàu cho thuê riêng.
Hình thức này chủ yếu được sử dụng để vận chuyển quốc tế hàng hóa nặng, bán buôn, phục vụ mục đích kinh doanh và họ chỉ tham gia vào một phần nhỏ trong chuỗi Logistics. 3PL (Third Party Logistics hay Logistics bên thứ ba): là người thay mặt chủ hàng tổ chức thực hiện và quản lý các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng. 3PL có thẻ hiểu là một chuỗi cung ứng, chủ yếu liên quan đến việc vận chuyển các sản phẩm khác nhau nhưng cũng bao gồm nhiều loại dịch vụ bổ sung khác. Các chức năng của 3PL bao gồm kho bãi, hoạt động thiết bị đầu cuối, môi giới hải quan, quản lý chuỗi cung ứng và nhiều hơn nữa.
Nó cũng bao gồm các sản phẩm và dịch vụ phân tích phần mềm công nghệ thông tin Logistics, để theo dõi và truy tìm tình trạng giao hàng của các sản phẩm khác nhau. Các dịch vụ Logistics của bên thứ 3 này cung cấp tất cả các dịch vụ nêu trên và cũng quản lý các trở ngại khác nhau.