Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu “Phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020” được thực hiện bởi tác giả Trịnh Kim Liên (năm 2013), thuộc chuyên ngành Kinh tế. Luận án tiếp cận vấn đề theo hướng nghiên cứu kết hợp giữa phân tích định tính và phân tích định lượng, tập trung làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Thủ đô trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng việc phát huy lợi thế của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu, giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu nông thôn, bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống, tạo việc làm tại chỗ và giảm áp lực di dân tự do ra thành phố. Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến năm 2015, thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp phấn đấu tăng 2-4 lần so với sản xuất thuần nông, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tăng 15-17%/năm (đạt 1,5 tỷ USD); đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu tăng 17-20%/năm (đạt 2,0-2,5 tỷ USD), cơ bản giải quyết ô nhiễm môi trường và xóa hộ nghèo tại các làng nghề. Số liệu từ Sở Công Thương Hà Nội (năm 2011) cho thấy toàn thành phố có 1.350 làng có nghề (chiếm 58,8% số làng), trong đó 274 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề được công nhận (chiếm 20,30% số làng có nghề). Theo Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Hà Nội quy tụ 47 trên tổng số 52 nghề của cả nước. Năm 2010, giá trị sản xuất của 1.350 làng có nghề đạt 8.604,55 tỷ đồng; năm 2011 có gần 100 làng đạt doanh thu 10-20 tỷ đồng/năm, 70 làng đạt 20-50 tỷ đồng/năm. Một số làng nghề đạt doanh thu cao như gốm Bát Tràng (350 tỷ đồng/năm), mộc Vạn Điểm (trên 240 tỷ đồng/năm), mộc Chàng Sơn (282 tỷ đồng/năm); thu nhập bình quân của lao động đạt 24 triệu đồng/người/năm.
Tuy nhiên, sự phát triển của các làng nghề xuất khẩu của Hà Nội thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế: phát triển tự phát, quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, sản xuất manh mún, mẫu mã chậm cải tiến, giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng. Đặc biệt, Báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 7/11/2011 khẳng định ô nhiễm môi trường làng nghề là thách thức lớn, khó kiểm soát, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng và trở thành rào cản đối với hoạt động xuất khẩu. Trong khi các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát nông thôn nói chung hoặc từng làng nghề đơn lẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và độc lập về phát triển bền vững làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu của Hà Nội trên cả ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là:
- Hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận cùng thực tiễn liên quan đến phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu.
- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2006-2011.
- Đề ra hệ thống quan điểm, mục tiêu và giải pháp phát triển bền vững các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu đến năm 2020.
Để giải quyết câu hỏi nghiên cứu trung tâm: “Làm thế nào để các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay?”, luận án đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Các nội dung phản ánh sự phát triển của làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu là gì?
- Chỉ tiêu đo lường sự phát triển của làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu là gì?
- Thực trạng phát triển của các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu ở Hà Nội thời gian qua có những thành công và hạn chế gì? Nguyên nhân của những hạn chế là gì?
- Mục tiêu, yêu cầu phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020 là gì?
- Trong thời gian tới những giải pháp nào cần được chú trọng để có thể phát triển bền vững làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội xem xét đồng bộ trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 6 nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ yếu: (1) Mây tre đan; (2) Sơn mài, khảm trai; (3) Chế biến lâm sản, mộc dân dụng, gỗ cao cấp; (4) Thêu ren; (5) Gốm sứ; (6) Chạm khắc đá, gỗ, xương, sừng. Nghiên cứu hai phương thức xuất khẩu gồm: xuất khẩu tại chỗ và xuất khẩu qua biên giới (bao gồm xuất khẩu sản phẩm nguyên gốc theo thiết kế của nghệ nhân và gia công theo đơn đặt hàng nước ngoài).
- Phạm vi không gian: Các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn thành phố Hà Nội, khảo sát trọng điểm tại các làng nghề tiêu biểu (Hạ Thái, Quất Động, Phú Vinh, Phú Túc, Bát Tràng, Chuyên Mỹ, Vạn Điểm, Hiền Giang).
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2011; tiến hành điều tra, khảo sát dữ liệu sơ cấp trong năm 2011; tầm nhìn định hướng giải pháp đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài theo 3 nhóm hướng nghiên cứu chính:
Nhóm thứ nhất: Các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp, nông thôn và công nghiệp hóa nông thôn nói chung:
- Công trình “Một số chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn” (2007) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì: Làm rõ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2001-2010.
- Công trình “Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng” (2002) của GS. Nguyễn Đình Phan, PGS.TS Trần Minh Đạo và TS. Nguyễn Văn Phúc: Phân tích thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn đồng bằng sông Hồng.
- Công trình “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam - Con đường và những bước đi” (2006) của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn và các cộng sự: Khảo sát thực trạng công nghiệp hóa nông thôn theo định hướng phát triển bền vững.
- Công trình “Phát triển bền vững nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp: Thực trạng và giải pháp” (2008) của TS. Đỗ Đức Quân: Phân tích tương tác giữa khu công nghiệp và kinh tế nông thôn.
Nhận xét: Các công trình trên tiếp cận ở tầm vĩ mô về nông nghiệp, nông thôn nhưng chưa đi sâu vào môi trường và cơ chế phát triển riêng biệt của các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu.
Nhóm thứ hai: Các nghiên cứu về tình hình phát triển chung của làng nghề truyền thống:
- Công trình “Làng nghề Việt Nam và môi trường” (2005) của PGS.TS Đặng Kim Chi: Khái quát hóa hiện trạng kinh tế - xã hội, mức độ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề và đề xuất chính sách cải thiện môi trường.
- Luận án Tiến sĩ “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH” (2003) của tác giả Trần Minh Yến: Hệ thống hóa lý luận và giải pháp đẩy mạnh phát triển làng nghề truyền thống trong tiến trình công nghiệp hóa.
- Đề tài cấp Bộ “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010” (2003) của TS. Trần Công Sách: Đánh giá cơ chế tiêu thụ sản phẩm và chính sách thị trường cho làng nghề truyền thống.
- Công trình “Làng nghề truyền thống đồng bằng sông Hồng sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới” (2009) của TS. Vũ Thị Thoa và các cộng sự: Làm rõ tác động tích cực và tiêu cực của việc gia nhập WTO đối với làng nghề truyền thống.
- Luận án Tiến sĩ “Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” (2010) của tác giả Bạch Thị Lan Anh: Phân tích mối quan hệ giữa sản xuất, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường làng nghề.
- Đề tài cấp Bộ “Một số chính sách chủ yếu phát triển bền vững làng nghề Việt Nam” (2010) của ThS. Đinh Xuân Nghiêm và đề tài “Chính sách và cơ chế liên kết nhiều nhà trong sự nghiệp chấn hưng và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam” (2009) của ThS. Lê Trung Thông: Đi sâu vào cơ chế chính sách và sự phối hợp giữa các chủ thể.
Nhận xét: Các nghiên cứu đã đóng góp cơ sở lý luận về làng nghề truyền thống nhưng chưa tập trung phân tích các làng nghề chuyên sản xuất hàng xuất khẩu.
Nhóm thứ ba: Các nghiên cứu về làng nghề thủ công mỹ nghệ và địa bàn Hà Nội:
- Luận án Tiến sĩ “Chiến lược marketing đối với hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề Việt Nam đến năm 2010” (2007) của tác giả Trần Đoàn Kim: Nghiên cứu ứng dụng marketing cho doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ.
- Công trình “Thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống” (2006) của PGS.TS Nguyễn Hữu Khải: Đề cập giải pháp xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề.
- Nghiên cứu “Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền thống và biến đổi” (2009) của tác giả Bùi Xuân Đính: Phân tích thực trạng biến đổi làng nghề ở phạm vi một huyện ngoại thành.
- Đề tài cấp thành phố Hà Nội mã số 01X-10/01-2010-2 “Đánh giá thực trạng và đề xuất các chính sách, giải pháp chủ yếu phát triển bền vững làng nghề Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” (2011) do TS. Hoàng Hà làm chủ nhiệm: Đánh giá tổng quát hoạt động sản xuất kinh doanh của hệ thống làng nghề trên địa bàn Hà Nội.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về làng nghề, nông nghiệp nông thôn và thủ công mỹ nghệ, song tính đến thời điểm tác giả triển khai nghiên cứu năm 2013, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và độc lập về đề tài “Phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020”. Luận án định vị khoảng trống cần giải quyết là đánh giá toàn diện hoạt động của các làng nghề xuất khẩu Thủ đô gắn kết chặt chẽ ba khía cạnh: tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án tiếp thu các định nghĩa và khung khổ pháp lý về làng nghề:
- Khái niệm theo JICA và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Làng nghề là làng nông thôn có thu nhập chính từ nghề thủ công, trên 30% số hộ hoặc lao động tham gia sản xuất thủ công; làng nghề truyền thống xuất hiện trước thế kỷ XIX, có sản phẩm đặc trưng được công nhận rộng rãi.
- Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Nghề truyền thống xuất hiện trên 50 năm, tạo sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc và gắn với tên tuổi nghệ nhân; làng nghề có tối thiểu 30% số hộ tham gia ngành nghề nông thôn, sản xuất ổn định tối thiểu 2 năm.
- Quyết định số 85/2009/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội: Tiêu chuẩn công nhận làng nghề truyền thống Hà Nội bao gồm lịch sử hình thành trên 50 năm, giá trị sản xuất ngành nghề chiếm từ 50% trở lên trong tổng giá trị sản xuất của làng, tối thiểu 30% số hộ tham gia, chấp hành vệ sinh môi trường, an toàn lao động và giữ gìn bản sắc văn hóa.
- Luận án đưa ra định nghĩa: Làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu là làng nghề (hoặc một vùng/tiểu vùng gồm nhiều làng liên kết) chuyên sản xuất các mặt hàng có khả năng tiêu thụ tại thị trường nước ngoài thông qua xuất khẩu tại chỗ hoặc xuất khẩu qua biên giới.
- Khung lý thuyết phát triển bền vững: Dựa trên Chương trình Nghị sự 21 (Hội nghị Rio de Janeiro 1992, Hội nghị Johannesburg 2002), Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg về Định hướng chiến lược phát triển bền vững Việt Nam và Quyết định số 432/2012/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam 2011-2020. Tác giả xác lập khung đánh giá phát triển bền vững làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên 3 nhóm tiêu chí:
- Nhóm tiêu chí kinh tế: Quy mô và tốc độ tăng giá trị sản xuất, kim ngạch xuất khẩu, thu nhập bình quân, khả năng cạnh tranh sản phẩm, tỷ trọng kênh tiêu thụ trực tiếp và gián tiếp.
- Nhóm tiêu chí xã hội: Quy mô giải quyết việc làm (lao động thường xuyên và thời vụ), nâng cao trình độ tay nghề, công tác đào tạo và truyền nghề, giữ gìn bản sắc văn hóa và tôn vinh nghệ nhân.
- Nhóm tiêu chí môi trường: Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường, nhận thức của cộng đồng dân cư về tác hại ô nhiễm, quy hoạch khai thác và sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, kiểm soát và giảm thiểu bệnh nghề nghiệp.
- Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng: (1) Vốn sản xuất kinh doanh; (2) Nguồn nguyên vật liệu; (3) Thị trường (thị trường sản phẩm, thị trường lao động, thị trường công nghệ); (4) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật; (5) Cơ chế chính sách của Nhà nước.
- Bài học kinh nghiệm quốc tế:
- Nhật Bản: Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống năm 1974, Luật Khuyến khích phát triển năng lực lao động năm 1969; phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm” (OVOP) tại tỉnh Oita; chính sách công nhận “nghệ nhân quốc bảo”; thành lập các Trung tâm Nghiên cứu phát triển mẫu mã mới; hệ thống bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng cho làng nghề; vai trò vệ tinh cho các tập đoàn công nghiệp.
- Trung Quốc: Phát triển xí nghiệp hương trấn; chính sách phân cấp ngân sách địa phương; ưu đãi thuế (miễn thuế trong 3 năm đầu cho xí nghiệp hương trấn); chương trình khoa học công nghệ “đốm lửa” đưa kỹ thuật về nông thôn; hỗ trợ vốn tín dụng từ các ngân hàng lớn.
- Thái Lan: Dự án quốc gia “Một làng nghề, một sản phẩm” (OTOP) năm 2001 dựa trên 3 nguyên tắc (mang tính địa phương nhưng tiến ra toàn cầu, phát huy tính tự lực sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực); chính sách tín dụng nông thôn lập quỹ doanh nghiệp cộng đồng; đào tạo nghề miễn phí cho nông dân nghèo; phát triển xuất khẩu gốm sứ và đá quý trang sức.
- Malaysia: Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp lần thứ I (1986-1995) và lần thứ II; thành lập Hội đồng công nghiệp hàng gia dụng và Hội đồng xúc tiến hàng gia dụng Malaysia; chiến lược thiết kế mẫu mã và tìm kiếm nguyên liệu thay thế gỗ tự nhiên.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu và báo cáo từ Sở Công Thương Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội và các báo cáo khoa học đã công bố.
- Phương pháp điều tra xã hội học định lượng kết hợp phỏng vấn sâu qua 2 mẫu phiếu:
- Mẫu phiếu số 1: Điều tra 200 cơ sở sản xuất tại các làng nghề xuất khẩu tiêu biểu thuộc 6 nhóm hàng (gồm sơn mài Hạ Thái, thêu ren Quất Động, mây tre đan Phú Vinh, cỏ tế Phú Túc, gốm sứ Bát Tràng, khảm trai Chuyên Mỹ, gỗ mỹ nghệ Vạn Điểm, điêu khắc Hiền Giang). Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phát phiếu kết hợp phỏng vấn trực tiếp nghệ nhân, chủ hộ và ghi hình thực tế.
- Mẫu phiếu số 2: Khảo sát 50 đối tượng là nhà quản lý, cán bộ địa phương cấp xã, lãnh đạo và chuyên viên Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chuyên gia Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, các nhà khoa học tại các viện nghiên cứu và trường đại học.
- Xử lý dữ liệu: Toàn bộ phiếu điều tra sau khi làm sạch được mã hóa, tổng hợp và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS trên máy tính cá nhân.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về làng nghề và phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu
Nội dung chương tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về làng nghề, làng nghề truyền thống và làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu. Tác giả phân tích 5 vai trò trọng yếu của làng nghề xuất khẩu: (1) Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; (2) Giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn (mỗi cơ sở sản xuất xuất khẩu giải quyết việc làm cho 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ; mỗi hộ làm nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên); (3) Thu hút vốn nhàn rỗi trong dân, thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”, hạn chế di dân tự do ra đô thị; (4) Gia tăng kim ngạch xuất khẩu và kết nối các chuỗi dịch vụ du lịch; (5) Phát huy nội lực địa phương, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa dân tộc. Chương này xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển bền vững làng nghề xuất khẩu (Biểu 1.1) gồm 3 trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường; phân tích 5 nhân tố tác động (vốn, nguyên liệu, thị trường, cơ sở hạ tầng, cơ chế chính sách) và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn từ Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia.
Chương 2: Tình hình phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua
Chương 2 cung cấp bức tranh thực trạng về làng nghề Hà Nội dựa trên dữ liệu thống kê và kết quả điều tra thực địa:
- Về kinh tế: Phân tích cơ cấu nhóm làng nghề (Hình 2.2), số lượng làng nghề xuất khẩu phân theo địa bàn quận huyện (Biểu 2.7) và phân theo ngành nghề (Hình 2.3). Giá trị sản xuất làng nghề tăng qua các năm (Biểu 2.1, Biểu 2.8). Phân tích chi phí sản xuất theo mặt hàng (Biểu 2.3), số hộ và tỷ lệ các loại hình cơ sở sản xuất (Biểu 2.9, Biểu 2.10). Đánh giá sự chuyển đổi công nghệ nung gốm qua so sánh chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật giữa lò hộp truyền thống và lò gas tại làng gốm Bát Tràng (Biểu 2.11). Khảo sát chất lượng hạ tầng kỹ thuật (Biểu 2.12), các vùng cung cấp nguyên liệu (Biểu 2.13), kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của thành phố giai đoạn 2006 đến 6 tháng đầu năm 2011 (Biểu 2.14, Biểu 2.15), các thị trường xuất khẩu trọng điểm gồm Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, Đài Loan, Hồng Kông (Biểu 2.16, Biểu 2.17).
- Về xã hội: Phân tích quy mô lao động (Biểu 2.4, Biểu 2.18), thu nhập bình quân của người lao động (Biểu 2.5), chênh lệch thu nhập theo giới tính (Biểu 2.19), cơ cấu độ tuổi lao động trong các làng nghề xuất khẩu (Hình 2.4), thực trạng trình độ tay nghề của thợ thủ công (Hình 2.5) và nhu cầu đào tạo nghề tại các cơ sở (Hình 2.6).
- Về môi trường: Phân tích thực trạng ô nhiễm nguồn nước, không khí và rác thải rắn tại các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu; dẫn chứng đánh giá của người dân địa phương về mức độ ô nhiễm môi trường (Hình 2.7).
- Đánh giá tổng hợp: Luận án chỉ ra các thành công về tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng thu nhập; đồng thời phân tích rõ các hạn chế về quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công nghệ thô sơ, thiếu vốn đầu tư, thiếu quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, thương hiệu yếu và ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát. Tác giả phân tích nguyên nhân của các hạn chế bắt nguồn từ nhận thức, cơ chế chính sách thiếu đồng bộ và năng lực quản lý của cơ sở.
Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020
Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp phát triển:
- Bối cảnh và mục tiêu: Đánh giá bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế năm 2012, các chỉ tiêu phát triển của Hà Nội năm 2013; xác định quan điểm, định hướng và hệ thống mục tiêu phát triển làng nghề xuất khẩu đến năm 2020 (Biểu 3.1).
- Nhóm giải pháp kinh tế: Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi, xây dựng quỹ bảo lãnh tín dụng; quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu ổn định; hỗ trợ xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới và phát triển kênh phân phối trực tiếp; khuyến khích cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ sạch (như nhân rộng mô hình lò nung gas).
- Nhóm giải pháp xã hội: Đẩy mạnh đào tạo nghề, truyền nghề gắn với nghệ nhân; nâng cao năng lực quản trị, tiếp thị cho các chủ cơ sở sản xuất; cải thiện điều kiện làm việc, an toàn lao động và bảo hiểm xã hội; bảo tồn các giá trị văn hóa và tôn vinh nghệ nhân làng nghề.
- Nhóm giải pháp môi trường: Triển khai nghiêm ngặt Luật Bảo vệ môi trường; quy hoạch và di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư vào các cụm công nghiệp làng nghề tập trung; đầu tư hệ thống xử lý nước thải và chất thải rắn tập trung; nâng cao nhận thức cộng đồng.
- Nhóm giải pháp khác: Hoàn thiện cơ chế chính sách của chính quyền thành phố, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông - điện lực nông thôn, gắn kết hoạt động làng nghề với các tuyến du lịch văn hóa.
Dưới đây là bảng tổng hợp các số liệu thực tế được tác giả dẫn chứng trong luận án:
| Tiêu chí / Chỉ tiêu |
Số liệu ghi nhận trong văn bản |
Nguồn dữ liệu / Căn cứ |
| Số lượng làng có nghề tại Hà Nội |
1.350 làng (chiếm 58,8% số làng toàn thành phố) |
Báo cáo Sở Công Thương Hà Nội (2011) |
| Số lượng làng nghề được công nhận |
274 làng (chiếm 20,30% tổng số làng có nghề) |
Báo cáo Sở Công Thương Hà Nội (2011) |
| Số nhóm nghề có mặt tại Hà Nội |
47 nghề / 52 nghề của toàn quốc |
Báo cáo tổ chức JICA Nhật Bản |
| Giá trị sản xuất 1.350 làng có nghề (2010) |
8.604,55 tỷ đồng |
Thống kê của luận án (Chương Mở đầu) |
| Doanh thu làng gốm Bát Tràng |
350 tỷ đồng/năm |
Thống kê năm 2011 |
| Doanh thu làng mộc Chàng Sơn |
282 tỷ đồng/năm |
Thống kê năm 2011 |
| Doanh thu làng mộc Vạn Điểm |
Hơn 240 tỷ đồng/năm |
Thống kê năm 2011 |
| Thu nhập bình quân lao động làng nghề |
24 triệu đồng/người/năm |
Thống kê năm 2011 |
| Lao động tạo ra tại mỗi cơ sở sản xuất xuất khẩu |
27 lao động thường xuyên; 8-10 lao động thời vụ |
Kết quả khảo sát của tác giả (Mẫu 1) |
| Lao động tạo ra tại mỗi hộ làm nghề |
4-6 lao động thường xuyên; 2-5 lao động thời vụ |
Kết quả khảo sát của tác giả (Mẫu 1) |
| Mẫu điều tra cơ sở sản xuất (Phiếu 1) |
200 cơ sở tại các làng nghề xuất khẩu tiêu biểu |
Khảo sát thực địa năm 2011 |
| Mẫu điều tra chuyên gia/quản lý (Phiếu 2) |
50 cán bộ quản lý, chuyên gia, nhà khoa học |
Khảo sát thực địa năm 2011 |
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt học thuật và lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm về làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu, chỉ ra các đặc trưng riêng biệt về tổ chức sản xuất, công nghệ, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ.
- Phân định rõ 2 phương thức xuất khẩu sản phẩm làng nghề: xuất khẩu tại chỗ (phục vụ du khách quốc tế) và xuất khẩu qua biên giới (bao gồm xuất khẩu sản phẩm nguyên gốc theo thiết kế sáng tạo của nghệ nhân và gia công theo đơn đặt hàng nước ngoài).
- Xây dựng hệ thống tiêu chí khoa học đánh giá sự phát triển bền vững của làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên ba trụ cột: kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và bài học trong nước, luận giải khả năng vận dụng phù hợp với đặc thù kinh tế làng nghề tại Hà Nội.
Về mặt thực tiễn và chính sách:
- Cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực tế toàn diện về 6 nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ đạo của Hà Nội giai đoạn 2006-2011, phân tích định lượng qua mô hình khảo sát 200 cơ sở sản xuất và 50 nhà quản lý, xử lý bằng phần mềm SPSS.
- Làm rõ bức tranh thực trạng về quy mô lao động, mức thu nhập theo giới tính, cơ cấu độ tuổi, trình độ tay nghề, năng lực công nghệ và thực trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề Thủ đô.
- Chỉ ra các nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng phát triển thiếu bền vững tại các làng nghề xuất khẩu, như hạn chế về mặt bằng sản xuất, thiếu vốn, mẫu mã chậm đổi mới, thiếu liên kết chuỗi giá trị và công tác quản lý môi trường còn nhiều bất cập.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp toàn diện và đồng bộ đến năm 2020 gồm 4 nhóm: kinh tế (vốn, nguyên liệu, công nghệ, thị trường), xã hội (đào tạo nghề, tôn vinh nghệ nhân, chính sách lao động), môi trường (quy hoạch cụm làng nghề, xử lý chất thải) và cơ chế chính sách quản lý nhà nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Mẫu điều tra sơ cấp (200 cơ sở sản xuất và 50 chuyên gia/cán bộ quản lý) được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chủ yếu tập trung tại 6 nhóm ngành hàng xuất khẩu tiêu biểu và các làng nghề danh tiếng, chưa thể bao quát hết toàn bộ 1.350 làng có nghề và 274 làng nghề đã được công nhận trên toàn địa bàn Hà Nội.
- Dữ liệu khảo sát sơ cấp được thu thập trong năm 2011 và các chuỗi số liệu thứ cấp dừng lại ở giai đoạn 2006 đến giữa năm 2011, do đó chưa phản ánh được các biến động kinh tế và thay đổi chính sách trong các giai đoạn tiếp theo.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra sang các làng nghề mới hình thành và các nhóm ngành nghề thủ công nghiệp khác trên địa bàn Hà Nội.
- Đi sâu nghiên cứu tác động của việc di dời cơ sở sản xuất vào các cụm công nghiệp làng nghề tập trung đối với sinh kế của người thợ thủ công và hiệu quả xử lý ô nhiễm môi trường trong dài hạn.
- Nghiên cứu mô hình chuỗi cung ứng toàn cầu và ứng dụng thương mại điện tử chuyên sâu cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kinh tế, Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Nông nghiệp nông thôn: Luận án cung cấp khung lý thuyết phát triển bền vững 3 trụ cột áp dụng cho làng nghề, hệ thống tiêu chí định lượng và quy trình điều tra thực địa, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (UBND Thành phố Hà Nội, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư): Luận án cung cấp các căn cứ thực tiễn để rà soát quy hoạch làng nghề, xây dựng chính sách tín dụng, hỗ trợ mặt bằng sản xuất và ban hành các quy chế bảo vệ môi trường làng nghề.
- Đối với các hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp và chủ cơ sở sản xuất: Cung cấp thông tin thị trường, định hướng mẫu mã, phân tích hiệu quả của việc chuyển đổi công nghệ (như thay thế lò hộp bằng lò gas) và kinh nghiệm tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu.
Câu hỏi thường gặp
-
Theo quy định tại các văn bản được luận án viện dẫn, tiêu chuẩn công nhận làng nghề truyền thống Hà Nội gồm những điều kiện gì?
Theo Quyết định số 85/2009/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hà Nội được nêu trong luận án, tiêu chuẩn công nhận danh hiệu “Làng nghề truyền thống Hà Nội” bao gồm: nghề hình thành trên 50 năm; giá trị sản xuất ngành nghề nông thôn chiếm từ 50% trở lên trong tổng giá trị sản xuất của làng; tối thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia; đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn lao động; chấp hành tốt chủ trương, pháp luật; sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc và gắn với tên tuổi của làng. Trường hợp chưa đạt chuẩn môi trường vẫn được xem xét nếu đã có đề án, dự án đánh giá tác động và biện pháp xử lý.
-
Luận án khảo sát thực địa tại những cơ sở nào và sử dụng công cụ gì để xử lý số liệu?
Tác giả đã triển khai điều tra qua 2 mẫu phiếu: Mẫu phiếu 1 khảo sát 200 cơ sở sản xuất tại các làng nghề xuất khẩu tiêu biểu (như Hạ Thái, Quất Động, Phú Vinh, Phú Túc, Bát Tràng, Chuyên Mỹ, Vạn Điểm, Hiền Giang) bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện; Mẫu phiếu 2 điều tra 50 nhà quản lý, chuyên gia và nhà khoa học. Dữ liệu thu thập sau khi làm sạch được phân tích và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS trên máy tính cá nhân.
-
Sáu nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ yếu của làng nghề Hà Nội được luận án lựa chọn nghiên cứu là gì?
Sáu nhóm ngành hàng xuất khẩu được luận án tập trung khảo sát gồm: (1) Mây tre đan; (2) Sơn mài, khảm trai; (3) Chế biến lâm sản, mộc dân dụng, gỗ cao cấp; (4) Thêu ren; (5) Gốm sứ; (6) Chạm khắc đá, gỗ, xương, sừng.
-
Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nghề thủ công được luận án đúc kết từ những quốc gia nào?
Luận án nghiên cứu và phân tích bài học kinh nghiệm từ 4 quốc gia: Nhật Bản (Luật Nghề truyền thống 1974, phong trào "mỗi thôn làng một sản phẩm", nghệ nhân quốc bảo, trung tâm R&D mẫu mã); Trung Quốc (xí nghiệp hương trấn, ưu đãi thuế, chương trình chuyển giao kỹ thuật "đốm lửa"); Thái Lan (Dự án OTOP năm 2001, tín dụng nông thôn, quảng bá gốm sứ và trang sức đá quý); Malaysia (kế hoạch công nghiệp hóa ngành đồ gỗ gia dụng, tìm kiếm nguyên liệu thay thế gỗ tự nhiên).
-
Hai phương thức xuất khẩu sản phẩm làng nghề được phân định trong luận án gồm những hình thức nào?
Luận án phân chia thành: xuất khẩu tại chỗ (bán hàng trực tiếp cho du khách quốc tế đến Việt Nam) và xuất khẩu qua biên giới. Trong đó, xuất khẩu qua biên giới gồm hai loại: xuất khẩu sản phẩm nguyên gốc theo thiết kế của nghệ nhân (mang tính nghệ thuật cao, hoa văn tinh xảo) và gia công sản phẩm theo đơn đặt hàng của khách hàng nước ngoài (sản xuất hàng loạt theo mẫu mã chỉ định).
Kết luận
Luận án “Phát triển làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020” của tác giả Trịnh Kim Liên là công trình nghiên cứu kinh tế có hệ thống về thực trạng và giải pháp phát triển các làng nghề xuất khẩu của Thủ đô. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu với khảo sát định lượng 200 cơ sở sản xuất và 50 chuyên gia, luận án đã làm sáng tỏ hiện trạng kinh tế, xã hội và môi trường tại 6 nhóm ngành hàng trọng điểm. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn hỗ trợ công tác quản lý nhà nước nhằm hướng tới phát triển bền vững làng nghề xuất khẩu của Hà Nội.