phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phụ lục ảnh, phần nội dung chính của khóa luận đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ SƠN MÀI BÌNH DƢƠNG 1. Vài nét về vùng đất, con ngƣời Bình Dƣơng 1. Lịch sử hình thành và phát triển nghề sơn mài ở Việt Nam và Bình Dƣơng 1.
Khái quát nghề sơn cổ truyền Việt Nam 1. Lịch sử hình thành và phát triển nghề sơn mài ở Bình Dương 1. Làng nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp Chƣơng 2. HIỆN TRẠNG VÀ HƢỚNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ SƠN MÀI TƢƠNG BÌNH HIỆP – BÌNH DƢƠNG TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 2.
Hiện trạng làng nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp – Bình Dƣơng 2. Tình hình sản xuất kinh doanh 2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm 2. Hiện trạng môi trường 12 2.
Hƣớng phát triển làng nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp hiện nay 2. Chất lượng sản phẩm 2. Nguồn lao động 2. Cơ sở hạ tầng 2.
Phát triển du lịch 2. Chính sách quản lý của Nhà nước Chƣơng 3. VAI TRÕ NGHỀ SƠN MÀI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA Ở BÌNH DƢƠNG 3. Về kinh tế 3.
Về văn hóa 13 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ SƠN MÀI BÌNH DƢƠNG 1. Vài nét về vùng đất, con ngƣời Bình Dƣơng Bình Dƣơng vốn là một phần đất của đất Gia Định xƣa, xƣa kia là một vùng đất hoang vu chỉ có một số ít ngƣời Stiêng, ngƣời Mạ, ngƣời Miên làm nƣơng rẫy sinh sống. Đất Bình Dƣơng tƣơng đối cao ráo, có sông Sài Gòn và sông Đồng Nai chảy qua, là hai sông lớn miền Đông Nam Bộ, giao thông tƣơng đối thuận lợi. Bình Dƣơng là một trong những vùng đất có sự hiện diện đầu tiên của những cƣ dân ngƣời Việt trong công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ đầu thế kỷ XVII.
Những lớp cƣ dân đầu tiên ấy hẳn đã ngƣợc theo sông Sài Gòn và sông Đồng Nai đến định cƣ và khẩn đất làm ăn lập nghiệp. Một bộ phận ngƣời Hoa cũng tìm đến định cƣ và mƣu sinh ở đất Bình Dƣơng tiếp sau đó hoặc cùng với cƣ dân Việt. Bình Dƣơng là một vùng đất có khí hậu hiền hòa, nhiều sông, lắm suối, dù có ít tài nguyên khoáng sản, nhƣng đất đai màu mỡ, cây cối tƣơi tốt, sum xuê. Đó chính là thế mạnh của tỉnh để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và các ngành nghề thủ công truyền thống.
Từ xa xƣa, Bình Dƣơng có những cánh rừng bạt ngàn, nơi hội tụ nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Cách ngày nay hơn 300 năm, khi cƣ dân ngƣời Việt đến khai mở làng xã, họ đã dựa vào những cánh rừng già bạt ngàn để khai thác gỗ dựng nhà, phát triển nghề thủ công truyền thống. Khi ngƣời Việt di cƣ vào Nam thì vùng rừng Bình Dƣơng lúc bấy giờ vẫn còn hoang vắng với rất nhiều loài động vật hoang dã sinh sống. Bên cạnh sự khắc nghiệt của thiên nhiên, ngƣời dân lại còn phải chống chọi với rất nhiều thú dữ, điển hình là cọp với số lƣợng nhiều vô kể, nhiều địa danh ngày nay còn mang tên cọp nhƣ “Hổ Cứ”, rạch “Ông Ra”, “Ông Rầy”.
Với số lƣợng nhiều nhƣ thế nên cọp là mối nguy hiểm thƣờng trực cho những ngƣời dân nơi đây, điều đó giải thích tại sao ở Bình Dƣơng có nhiều đền, miếu thờ Ông Cọp nhằm cầu mong sự yên ổn. 14 Ở vùng đất mới, cƣ dân họ phải đấu tranh gian khổ với phong thổ lạ lẫm đầy những thách thức và nguy hiểm nhƣng cũng nhiều hứa hẹn. Do vậy đã hình thành nên tính cách của ngƣời Nam Bộ mà Trịnh Hoài Đức đã nhận xét: “…Gia Định đất rộng, vật thực nhiều, không lo bị đói rét, cho nên dân ít phải lo dành dụm… sĩ khí hiên ngang, con người chuộng nghĩa tiết… Gia Định là đất phương Nam của nước Việt. Khi mới khai phá, lưu dân nước ta (người Việt) cùng với các dân kiều ngụ như người Đường (người Hoa), người Cao Miên (người Khơ-me), người Phú Lãng Sa (người Pháp), người Hồng Mao (người Anh), người Mã Lai, người Đồ Bà (người Gia-va), ở lẫn với nhau, nhưng người nước nào theo tục lệ nước đó…” [11, tr.
Trải qua thời gian cộng cƣ, văn hóa của các dân tộc khác nhau đã dần dần hòa nhập vào văn hóa Việt, chính điều này đã làm cho văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần ở Nam Bộ có những nét độc đáo. Sự độc đáo đó thể hiện trong cung cách làm ruộng vƣờn, trong các nghề thủ công mỹ nghệ, trong cả cách ăn ở, cách mặc, trong phong tục tín ngƣỡng, thói quen và cả ngôn ngữ nữa. Đây là kết quả của quá trình giao lƣu, tiếp biến văn hóa từ những thành tựu văn hóa của các tộc ít ngƣời. Sau khi Pháp chiếm Biên Hòa và cả khu vực miền Đông Nam Bộ, vào năm 1871 huyện Bình An đổi thành hạt Thủ Dầu Một.
Qua nhiều lần phân cách, thay đổi địa danh, địa giới đến năm 1900 tỉnh Thủ Dầu Một ra đời. Năm 1956 tỉnh Thủ Dầu Một đƣợc đổi tên là tỉnh Bình Dƣơng. Năm 1976 tỉnh Bình Dƣơng sát nhập với tỉnh Bình Long, Phƣớc Long trở thành tỉnh Sông Bé. Năm 1997, tỉnh Sông Bé đƣợc chia thành hai tỉnh Bình Dƣơng và Bình Phƣớc cho đến nay.
Bình Dƣơng ngày nay là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, theo kết quả điều tra của Tổng Cục Thống kê Việt Nam, diện tích của tỉnh là 2.694,43 km2, dân số năm 2013 của tỉnh là 1.500 ngƣời, mật độ 669 ngƣời/km2. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phƣớc, phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh. Bình Dƣơng có 1 thành phố, 4 thị xã và 4 huyện (với 41 phƣờng, 2 thị trấn và 48 xã). Tỉnh lỵ của Bình Dƣơng hiện nay là thành phố Thủ Dầu Một, là trung tâm chính trị hành chính – kinh tế – văn hóa của tỉnh Bình Dƣơng.
15 Nhƣ vậy, về phƣơng diện địa dƣ, hiện nay tỉnh Bình Dƣơng đã thu nhỏ lại về diện tích nhƣng về góc độ lịch sử, có thể nhận định rằng, đây chính là vùng đất có quá trình ổn định và phát triển nhanh chóng. Nếu tính từ khi Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh khai hoang lập ấp thì Bình Dƣơng đã có quá trình ra đời trên 300 năm. Do kinh tế phát triển nhanh, nên trong thời gian qua Bình Dƣơng thu hút nhiều dân nhập cƣ từ các địa phƣơng khác. Bình Dƣơng hiện có trên mƣời dân tộc, nhƣng đông nhất là ngƣời Việt (Kinh) chiếm khoảng 90%, sau đó là ngƣời Hoa, ngƣời Khơ-me, ngƣời Tày, ngƣời Chăm, Stiêng, Mạ, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore.
Nằm ở trung tâm miền Đông Nam Bộ, tiếp giáp với hệ thống huyết mạch giao thông thủy, bộ quan trọng, đặc biệt là quốc lộ xuyên Á và sát cạnh Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, do vậy từ thời khai mở làng xã đến nay, Bình Dƣơng luôn đƣợc đánh giá là tỉnh có vị trí kinh tế, văn hóa quan trọng. “Đất lành, chim đậu”, quá trình tụ cƣ về mảnh đất Bình Dƣơng ngày nay trải dài hơn 300 năm tính từ sự kiện triều đình Huế xác lập cƣơng vực đất nƣớc năm 1698. Điểm chung trong suốt quá trình tụ cƣ là sự đa dạng về thành phần xuất thân, nguồn gốc, địa vị xã hội. Có thể gọi họ là cƣ dân xiêu tán tìm đến vùng đất Bình Dƣơng “lập nghiệp sinh cơ” với nhiều lý do khác nhau.
Tựu trung, trong họ, bất kỳ thành phần nào cũng đều dung chứa tƣ tƣởng tự do, tính phiêu lƣu, mạo hiểm, dám nghĩ, dám làm. Tính cách ấy đƣợc rèn giũa, nhân lên trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng đất phƣơng Nam; trong quá trình giao lƣu văn hóa tộc ngƣời; trong quá trình theo Đảng làm cách mạng bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Trong chính tiến trình tụ cƣ ấy, mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm lịch sử đặc thù ảnh hƣởng nhất định đến cƣ dân xiêu tán. Có thể khẳng định rằng, bức tranh về dân cƣ Bình Dƣơng khá đa sắc về nguồn gốc xuất thân, thành phần, địa vị xã hội, tay nghề, trình độ học vấn và trình độ khoa học kỹ thuật.
Dù vậy, cƣ dân Bình Dƣơng suốt chiều dài lịch sử dựng và giữ nƣớc, họ đã cùng nhau đoàn kết, vƣợt qua những trở ngại khó khăn để làm nên lịch sử vàng son của vùng đất Bình Dƣơng đầy biến động. 16 Hiện nay, cƣ dân Bình Dƣơng đang tiến nhanh vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, đang đƣa Bình Dƣơng dần trở thành một thành phố công nghiệp, hiện đại, giữ vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Tổ quốc. Trải qua hơn ba thế kỷ, vùng đất Bình Dƣơng từ chỗ hoang vu đã trở thành đất lành cho mọi ngƣời đến làm ăn sinh sống. Quá trình tạo dựng, phát triển đến nay, qua biết bao thế hệ nối tiếp nhau khai phá và xây dựng.
Trong suốt quá trình lịch sử ấy, vùng đất và con ngƣời ở đây luôn gắn bó và hòa quyện vào nhau, tác động lẫn nhau, ngày một phát triển phồn vinh. Lịch sử hình thành và phát triển nghề sơn mài ở Việt Nam và Bình Dƣơng 1. Khái quát nghề sơn cổ truyền Việt Nam Cây sơn là một sản vật quý tại Việt Nam có tên khoa học Rhus succedenéa họ Anacrdiacea (thƣờng gọi là cây sơn ta) và nghề sơn là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở đất nƣớc ta. Đầu tiên ngƣời xƣa dùng chất nhựa của loài cây sơn đƣợc trồng nhiều ở các vùng Vĩnh Phú, Phú Thọ dùng chủ yếu để sơn gắn các đồ dùng, sơn thuyền, sơn vũ khí… Dần dần sơn ta đƣợc dùng vào các công việc trang trí trong các cung điện, đền đài, chùa tháp… lúc này sơn ta đã trở thành một nghề, và ngƣời thợ sơn đƣợc trọng vọng hơn so với nhiều nghề khác trong xã hội.
Từ khi nào cây sơn, chất liệu nhựa sơn đƣợc đƣa vào ứng dụng trong đời sống, đặc biệt là việc chế tác thành các đồ dùng, sản phẩm hàng hóa?, điều này còn đang đƣợc tìm hiểu, nghiên cứu của các nhà chuyên môn. Tuy nhiên từ nhựa cây thiên nhiên ngƣời Việt xƣa đã sớm phát hiện ra nó, biến thành những vật dụng hàng ngày bền chắc, công năng sử dụng thuận tiện, không những thế còn mang tính thẩm mỹ cao, ẩn chứa nền văn hóa bản địa.