CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG ANH QUA HỌC TẬP PHỤC VỤ CỘNG ĐỒNG CHO SINH VIÊN CÁC NGÀNH KỸ THUẬT 1.Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp tiếng Anh 1. Vai trò của kỹ năng giao tiếp tiếng Anh trong thời kỳ hội nhập Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu (NC) của Liên Hợp Quốc về KN cốt lõi của người lao động ở mọi ngành nghề trên toàn thế giới đã khẳng định rằng KNGT là một trong những KN quan trọng cần phải có để giúp con người chung sống, hợp tác và làm việc hiệu quả (Phan Quốc Việt, 2009). KNGT không chỉ giúp con người có được việc làm mà nó còn giúp cho con người tiến bộ trong tổ chức nhờ phát huy tiềm năng cá nhân, đóng góp vào định hướng chiến lược phát triển của tổ chức đó.
Điều đó cho thấy KNGT đóng vai trò quan trọng của đối với con người. Vai trò của tiếng Anh trong bối cảnh toàn cầu hóa được quan tâm bởi nhiều học giả trên thế giới. Theo Sarwar (2000:32) trong nhiều đặc điểm nổi bật đặc trưng cho thời đại toàn cầu hóa của kỉ nguyên hiện đạị chính là tiếng Anh được sử dụng như là ngôn ngữ quốc tế phục vụ cho mọi lĩnh vực và GT. Bàn về ngôn ngữ quốc tế, Kay (2002) cho rằng đặc điểm nổi bật của một ngôn ngữ quốc tế là nó có một số lượng lớn những người nói, vừa như là ngôn ngữ bản địa vừa như là ngôn ngữ thứ hai, và vừa như là một NN.
Theo Ling và Brown (2005), Tiếng Anh được sử dụng trong hơn 75 vùng lãnh thổ và quốc gia trên thế giới, số người học và sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai chiếm từ 1-1,5 tỉ, và số người học Tiếng Anh như là một NN chiếm khoảng 0,5 tỉ. Việc tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ toàn cầu có lẽ không còn là vấn đề cần bàn cãi. Vị thế tiếng Anh được khẳng định và tình hình dạy - học tiếng Anh được đầu tư một cách bài bản và có hệ thống được thể hiện qua một số quốc gia trong khu vực, những địa danh có vị trí gần với Việt Nam như sau: Theo Tay (1996), tiếng Anh và tiếng Quảng Đông là hai ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong GT và trong GD từ phổ thông đến ĐH, trong đó tiếng Anh được xem là ngôn ngữ của quyền lực tại Hồng Kông. Hơn một thế kỷ nay, tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ được sử dụng trong mọi lĩnh vực và được xem như một chìa khóa để duy trì vị thế của vùng lãnh thổ trong nhiều lĩnh vực quan trọng như: thương mại, kinh doanh, ngân hàng và giao thông liên lạc quốc tế.
Thực tế đã cho thấy rằng, tiếng Anh là công cụ quan trọng để đạt được sự tiến bộ về khoa học, công nghệ, xã hội, kinh tế và giáo 10 án tiến sĩ Hóa học dục. Ở bậc ĐH, tiếng Anh được dùng làm phương tiện GD, vì thế SV trúng tuyển vào các trường ĐH được yêu cầu phải có đủ trình độ tiếng Anh để thực hiện các nhiệm vụ HT và nghiên cứu khoa học. Do đó, ở bậc ĐH có thể xem Hồng Kông như một môi trường song ngữ trong đó tiếng Anh được dùng trong GT, đặc biệt là trong GT học thuật. Theo Chung và Huang (2009), sự xuất hiện của tiếng Anh tại Đài Loan như là một ngôn ngữ toàn cầu đã có ảnh hưởng lớn đến người dân và chính quyền Đài Loan trên mọi lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, giáo dục.
Mục tiêu nâng cao chất lượng GD tiếng Anh của Đài Loan được thể hiện rõ nét trong các chương trình giáo dục từ bậc tiểu học đến trung học: học sinh phải thấm nhuần khả năng GT cơ bản để có được tầm nhìn toàn cầu và tạo độ tự tin cho mỗi cá nhân trong GT trong khu vực và thế giới. Giống như nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ ở hai khu vực Đông Á và Đông Nam Á, tiếng Anh ở Đài Loan được sử dụng rộng rãi ở bậc ĐH, như một phương tiện GD các môn học thuộc các ngành khoa học tự nhiên, công nghệ, kinh tế, thậm chí cả luật học. Theo Taguchi (2005) tiếng Anh được dạy như là một môn học bắt buộc với học sinh từ bậc trung học cơ sở ở Nhật Bản. Hiện nay nhiều trường tiểu học ở Nhật bản đang lập kế hoạch dạy tiếng Anh, đặt trọng tâm vào dạy hai KN nghe và nói.
Chính sách coi trọng tiếng Anh của Nhật Bản được thể hiện rõ qua các mục tiêu: nâng cao sự hiểu biết của người học về ngôn ngữ và văn hóa thông qua việc học NN và củng cố thái độ tích cực đối với GT bằng NN, bằng cách khuyến khích người học nâng cao khả năng GT thực hành; thực hiện các HĐ GT cho người học để truyền đạt tình cảm và trình bày ý nghĩ; giúp cho người học tìm ra những cách diễn đạt phù hợp cho từng trường hợp hoặc tình huống cụ thể (Katayama, 2006). Từ những năm 2001, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã thông qua một chính sách về thúc đầy GD các môn học bằng tiếng Anh, khuyến khích việc sử dụng tiếng Anh trong lớp học. Giống như nhiều nước trên thế giới, chính phủ, đặc biệt là người dân Hàn Quốc rất quan tâm đến dạy và học tiếng Anh. Các trường học dạy bằng tiếng Anh bắt đầu xuất hiện, và những trường lớn nhất trong số các trường này có số lượng học sinh ghi danh lên đến hàng trăm ngàn người.
Việc dạy tiếng Anh ở Malaysia bắt đầu được chú trọng mạnh mẽ trong giai đoạn thực dân hóa của Anh từ cuối thế kỷ XVIII đến nay. Trong các trường quốc lập, ngôn ngữ chính là tiếng Malaysia và tiếng Anh. Bộ Giáo dục Malaysia đang triển khai việc đưa TA như là phương tiện GD cho các môn khoa học và công nghệ ở cả hai bậc phổ thông và ĐH. Tất cả các GV đại học trong các trường ĐH công lập đều bắt buộc phải 11 án tiến sĩ Hóa học sử dụng TA và TA được sử dụng làm phương tiện GD ngày càng nhiều trong các ngành khoa học, công nghệ và kinh tế (Thirumalai, 2001).
Cùng với sự thành lập các trung tâm thương mại ở Singapore từ năm 1819, tiếng Anh cũng sử dụng như một ngôn ngữ giao tiếp quan trọng. Chức năng và vị thế của tiếng Anh tăng lên nhanh chóng, với việc thiết lập các trường học dạy bằng tiếng Anh, vai trò và vị thế của tiếng Anh ngày càng chiếm ưu thế. Tiếng Anh được xem là phương tiện để Singapore hiện đại hóa, và là một công cụ để GT giữa các dân tộc. Tay (1996), Ling và Brown (2005) đã chỉ ra tám lĩnh vực trong đó tiếng Anh được sử dụng ở Singapore đó là: tiếng Anh trở thành một trong bốn ngôn ngữ chính thức của Singapore; tiếng Anh trở thành ngôn ngữ giáo dục; ngôn ngữ làm việc; ngôn ngữ chung giữa các CĐ; ngôn ngữ thể hiện bản sắc dân tộc; ngôn ngữ quốc tế; ngôn ngữ tín ngưỡng và ngôn ngữ dùng ở nhà.
Do đặc thù xã hội ở Singapore, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ nhất. Mặc dù tiếng Anh được đưa vào giảng dạy từ nhiều thập kỷ trước tại Thái Lan và Indonesia, nhưng nhìn chung vị thế hiện tại của tiếng Anh vẫn là của một NN (Prapphal, 2003). Ngày nay, tiếng Anh đã trở thành một NN có vị thế quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân ở cả hai quốc gia, đặc biệt là trong giáo dục ĐH. Bên cạnh đó, tiếng Anh được sử dụng chính thức trong khoa học và công nghệ, là cơ hội để phát triển và chuyển giao khoa học và công nghệ vào đời sống và sản xuất.
Mặc dù trong hệ thống giáo dục quốc dân, tiếng Anh là môn học bắt buộc và là một NN chiếm ưu thế gần như độc tôn, nhưng vị thế tiếng Anh ở Việt Nam vẫn được xem như là một NN. Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã có những chính sách khuyến khích mạnh mẽ việc học NN, đặc biệt là học tiếng Anh và điển hình nhất là Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2025. Mặc dù là NN được quan tâm đặc biệt, nhưng chất lượng giáo dục tiếng Anh ở các bậc học vẫn còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu và nhìn chung chưa đáp ứng được những mục tiêu đề ra cho môn học (Hoàng Văn Vân, 2010). Như vậy, tùy thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội của từng quốc gia hay từng vùng lãnh thổ, tiếng Anh nhận được sự ưu tiên khác nhau, có vị thế khác nhau và được bắt đầu đưa vào giảng dạy ở những độ tuổi hay các bậc học khác nhau: có nơi xem tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất, có nơi xem tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai trong môi trường song ngữ, có nơi bắt đầu đưa tiếng Anh vào dạy từ bậc tiểu học, có nơi đưa tiếng Anh vào dạy từ bậc trung học cơ sở.
Ở bậc ĐH, tiếng Anh có thể được sử dụng làm phương tiện GD hoặc toàn bộ các môn học hoặc một bộ phận các môn học, nó có thể chỉ được 12 án tiến sĩ Hóa học dạy như là môn học với mục đích công cụ: tiếp thu tri thức khoa học và công nghệ từ bên ngoài thông qua đọc hiểu các tài liệu bằng tiếng Anh. Qua những nội dung được đề cập ở trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy được một bức tranh toàn cảnh về việc dạy và tiếng Anh ở các quốc gia trong khu vực. Vai trò của TA hơn bao giờ hết được nhấn mạnh trong giáo dục, nhất là trong thời đại giao lưu văn hóa, kinh tế và kỹ thuật đang ngày càng phát triển. Tuy nhiên, trình độ tiếng Anh nhất là KNGT vẫn còn hạn chế khi so sánh giữa các nước xem tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất (Singapore, Malaysia v.) và các nước xem tiếng Anh như là ngoại ngữ (Việt Nam, Thái Lan, Hàn quốc).
Hệ thống giáo dục là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc học tiếng Anh ở phần lớn các nước Đông Nam Á không tốt bằng các nước khác. Việc đọc, chép truyền thống đã khiến cho người học thụ động, trong khi học tốt một ngôn ngữ lại cần nhiều hơn là chép bài và học thuộc. Chìa khóa, một lần nữa, nằm ở PP dạy và học: thực hành nhiều, nói nhiều hơn, xem nhiều hơn, đọc nhiều hơn và tất yếu sẽ tự tin hơn. Phân loại và chức năng của kỹ năng giao tiếp tiếng Anh Nhiều tác giả trên thế giới công bố những khái niệm khác nhau về KNGT tiếng Anh dựa trên nhiều góc độ như giáo dục học, tâm lý học, và xã hội học.