Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THCS 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trong lịch sử nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về giao tiếp, vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành, phát triển nhân cách con người nói chung và nhân cách HS nói riêng. Đầu thế kỷ XX, dựa trên tư tưởng triết học Mác Xít, các nhà Tâm lý học nổi tiếng của Liên Xô (cũ) như L.Rubinxtein… đã đề cập đến vấn đề giao tiếp của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau.
Hoạt động dạy - học đã được nghiên cứu một cách có hệ thống trong quá trình phát triển của khoa học GD, trong khi đó HĐTNST dường như ít được quan tâm. Đầu tiên phải kể đến Lý thuyết học qua trải nghiệm của David A. Trong lý thuyết học từ trải nghiệm, Kolb cũng chỉ ra rằng "Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm. Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”.
Lý thuyết “Học từ trải nghiệm” là cách tiếp cận về phương pháp học đối với các lĩnh vực nhận thức. Nếu như mục đích của việc dạy học chủ yếu là hình thành và phát triển hệ thống tri thức khoa học, năng lực và hành động khoa học cho mỗi cá nhân thì mục đích hoạt động giáo dục là hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, sự đam mê, các giá trị, kĩ năng sống và những năng lực chung khác cần có ở con người trong xã hội hiện đại. Để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học, nhưng để phát triển và hình thành phẩm chất thì người học phải được trải nghiệm. Như vậy, trong lý thuyết của Kolb, trải nghiệm sẽ làm cho việc học trở nên hiệu quả bởi trải nghiệm ở đây là sự trải nghiệm có định hướng, có dẫn dắt chứ không phải sự trải nghiệm tự do, thiếu định hướng [20].Makarenco (1888-1939) Ông đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác Xít vào thực tế để rút ra những kinh nghiệm làm phong phú cho lý luận GD xã hội chủ nghĩa nói riêng và GD nhân loại nói chung.
Theo ông một trong những logic của quá trình sư phạm là “Quá trình tổ chức hợp lý hoạt động của HS tham gia vào cách mạng xã 4 hội, lao động sản xuất, các hoạt động tập thể như vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, văn hóa nghệ thuật” [19] Trong cuốn sách “Giáo dục học” tập 3, tác giá T.Ilina đã nêu “Công tác GD ngoại khóa bổ sung và làm sâu thêm công tác GD nội khóa, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy đủ tài năng và năng lực của trẻ em, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của HS đối với một hoạt động nào đó; đó là một hình thức tổ chức giải trí của HS và là cơ sở để tổ chức việc thực hiện về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này. Trên thế giới, việc tổ chức các HĐTNST cho HS các cấp học không còn là hình thức mới mẻ và xa lạ. Trong khi tại Việt Nam hoạt động này diễn còn khá nhỏ lẻ và chủ yếu tại các Trường học ở những thành phố lớn. Hình thức Trải nghiệm sáng tạo ở mỗi một quốc gia lại có những nét riêng biệt, có thể điểm qua một số HĐTNST ở các quốc gia tiêu biểu như sau: Singapore: Hội đồng nghệ thuật quốc gia có chương trình GD nghệ thuật, cung cấp, tài trợ cho nhà trường phổ thông toàn bộ chương trình của các nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật… Hà Lan (Netherlands): Thiết lập trang mạng nhằm trợ giúp những HS có những sáng tạo làm quen với nghề nghiệp.
HS gửi hồ sơ sáng tạo (dự án) của mình vào trang mạng này, thu thập thêm những hiểu biết từ đây; mỗi HS nhận được khoản tiền nhỏ để thực hiện dự án của mình. Vương quốc Anh: Cung cấp hàng loạt tình huống, bối cảnh đa dạng, phong phú cho HS và đòi hỏi phát triển, ứng dụng nhiều tri thức, kỹ năng trong chương trình, cho phép HS sáng tạo và tư duy; giải quyết vấn đề làm theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt kết quả tốt hơn; cung cấp cho HS các cơ hội sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm… CHLB Đức: Từ cấp Tiểu học đã nhấn mạnh đến vị trí của các kỹ năng cá biệt, trong đó có phát triển kỹ năng sáng tạo cho trẻ; phát triển khả năng học độc lập; tư duy phê phán và học từ kinh nghiệm của chính mình. Nhật Bản: Nuôi dưỡng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, hình thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo. Hàn Quốc: Mục tiêu HĐTNST hướng đến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo.
Cấp Tiểu học và cấp THCS nhấn mạnh cảm xúc và ý tưởng sáng tạo, Trung học phổ thông phát triển công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo. Nghiên cứu trong nước * Về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Từ năm 2004, Bộ GD&ĐT đưa HĐGDNGLL vào kế hoạch dạy học và GD trong toàn bộ các trường phổ thông, có vị trí quan trọng như một môn học. Vì vậy vấn đề để tổ chức HĐGDNGLL cho HS các cấp từ tiểu học đến trung học phổ thông đã được giới nghiên cứu quan tâm. Đặc biệt, bắt đầu có những nghiên cứu về HĐGDNGLL xây dựng chương trình và biên soạn tài liệu giáo khoa cho từng cấp học và các sáng kiến kinh nghiệm.
Điển hình là sự đóng góp của các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Bùi Sỹ Tụng, Lê Thanh Sử [13] [14] [15],… đã tập trung làm sáng tỏ các vấn đề: vị trí, mục tiêu, nội dung, các hình thức tổ chức của HĐGDNGLL. Ngoài ra, các nghiên cứu của các tác giả: Phạm Hoàng Gia, Phạm Lăng, Nguyễn Lê Đắc,…các luận án của Lê Trung Tấn, Nguyễn Thị Thành, Huỳnh Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Việt Hà, Trần Anh Dũng, Nguyễn Bá Tước… về HĐGDNGLL cũng đã đóng góp về mặt lý luận và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục của HĐGDNGLL trong trường phổ thông. Tuy nhiên trên thực tế, việc triển khai HĐGDNGLL hiện nay còn tồn tại những vấn đề bất cập, liên quan đến phương pháp, cách thức tổ chức, kỹ năng tổ chức của giáo viên, kỹ năng tự quản, tự tổ chức hoạt động của HS…Chính vì vậy, cùng với Dự thảo Chương trình giáo dục mới sau năm 2015, Bộ GD&ĐT đã hướng dẫn triển khai “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo”. Thực chất đây là một giải pháp quan trọng để đổi mới và giúp HĐGDNGLL trong các trường phổ thông đem lại hiệu quả giáo dục cao hơn, dưới một phương thức khác, một tên gọi khác đó là HĐTNST.
* Về Phát triển kỹ năng giao tiếp Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp và phát triển KNGT cho HS đã được một số nhà nghiên cứu và nhà GD quan tâm. Những năm gần đây, một số công trình đã đề cập đến vai trò giao tiếp trong GD ở nhà trường phổ thông - Tác giả Đặng Xuân Hoài và các nhà nghiên cứu thuộc Viện khoa học GD (1983) nghiên cứu: Sự hình thành động cơ xã hội của học sinh cấp II. III đã khẳng định “Giao lưu là điều kiện tất yếu tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, sự ăn ý, sự thông cảm, sự phối hợp hành động, sự phân công trách nhiệm” - Tác giả Đỗ Thị Hạnh nghiên cứu “Nhu cầu kết bạn của thiếu niên” đã chỉ ra rằng nhu cầu giao tiếp với bạn cùng tuổi ở thiếu niên phát triển mạnh là cơ sở để hình 6 thành và phát triển quan hệ bạn bè trong và ngoài nhà trường phù hợp với điều kiện nhà trường phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi. - Tác giả Phùng Thị Hằng, trong luận án tiến sĩ: “Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh THPT dân tộc Tày, Nùng” đã chỉ ra rằng, giao tiếp của học sinh THPT dân tộc Tày, Nùng tiếng mẹ đẻ là phương tiện giao tiếp thường ngày của các em, nó có ảnh hưởng đến quá trình sử dụng tiếng Việt của học sinh trong các tình huống giao tiếp.
Để hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp cho học sinh THPT người dân tộc thiểu số thì một trong các hình thức, biện pháp rất hiệu quả là tổ chức các hoạt động học tập, hoạt động ngoài giờ lên lớp đa dạng, linh hoạt, sinh động phù hợp với điều kiện nhà trường, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi.[9] - Ngoài các nghiên cứu về giao tiếp nói chung nhiều tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu về các KNGT: tác giả Trần Trọng Thủy trong công trình nghiên cứu về giao tiếp đã đưa ra các KNGT sau: Biết cách ứng xử tế nhị; biết im lặng đúng lúc; biết tự kiềm chế; biết lắng nghe…; tác giả Lê Thị Bừng đã đề cập đến cách ứng xử khéo léo tế nhị khi tiếp xúc, ứng xử học đường, ứng xử trong quan hệ bạn bè, nơi làm việc… Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về KNGT của các học viên và sinh viên các trường đại học sư phạm Thái Nguyên và Đại học Sư phạm Hà Nội. * Về hoạt động trải nghiệm sáng tạo Tại Việt Nam, việc đổi mới nhà trường mà vấn đề cốt lõi là phát triển năng lực học sinh bắt đầu được tiến hành từ tháng 6/2006 với giúp đỡ của các chuyên gia người Nhật là Eisuke Saito, Atsushi Tsukui, Masaaki Sato. Trường đầu tiên tiến hành thí điểm đổi mới là trường THCS Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Sau gần 10 năm tiến hành đổi mới, trường THCS Bích Sơn đã thu được những thành công bước đầu đáng ghi nhận, là động lực để áp dụng cho các trường THCS khác trong cả nước.
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong báo cáo nghiên cứu khoa học năm 2015 tại Hội nghị Công tác xã hội trường học đã nêu rõ tính cấp thiết trong việc quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo hướng phát triển năng lực cho học sinh phổ thông. Tác giả đi sâu vào phân tích việc xây dựng nội dung hoạt động ngoại khóa gắn với giáo dục kỹ năng sống, gắn với trải nghiệm sáng tạo để phát huy năng lực của học sinh; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh ở bậc phổ thông.