Tổng quan luận án

Vấn đề tự kỷ ở trẻ em đang gia tăng nhanh chóng trên quy mô toàn cầu. Theo số liệu thống kê ngày 30/3/2012 của Trung tâm phòng chống dịch bệnh của Mỹ (CDC - Centers for Disease Control and Prevention), tỷ lệ trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ (ASD) được ghi nhận là 1/88 trẻ, trong đó tỷ lệ trẻ trai mắc chứng tự kỷ cao gấp 5 lần so với trẻ gái. Tại Việt Nam, xu hướng phát hiện trẻ tự kỷ có sự gia tăng rõ rệt từ những năm 2000 trở lại đây. Một tỷ lệ đáng kể trẻ tự kỷ đang tham gia học tập tại các trường mầm non hòa nhập.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: trẻ tự kỷ gặp khiếm khuyết cốt lõi về tương tác xã hội và giao tiếp (thiếu tập trung chú ý, hạn chế bắt chước, không biết luân phiên, khó khăn trong nghe hiểu và sử dụng ngôn ngữ). Giai đoạn 3 - 4 tuổi là mốc thời gian mang tính quyết định để chẩn đoán xác định và can thiệp giáo dục. Tuy nhiên, công tác giáo dục hòa nhập ở bậc học mầm non tại Việt Nam còn gặp nhiều trở ngại: giáo viên mầm non thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu kỹ năng tổ chức hoạt động giao tiếp đặc thù, nguồn tài liệu hướng dẫn thực hành còn khan hiếm. Các nghiên cứu trong nước trước đó chủ yếu dừng lại ở can thiệp hành vi hoặc đánh giá nhận thức nói chung, chưa có công trình chuyên sâu xây dựng hệ thống biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp (KNGT) cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi trong lớp học mầm non hòa nhập.

Luận án xác định các yếu tố khoa học cơ bản như sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ, luận án đề xuất các biện pháp tác động sư phạm nhằm góp phần phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi.
  • Giả thuyết khoa học: KNGT của trẻ tự kỷ còn nhiều hạn chế (tập trung chú ý kém, không biết bắt chước lời nói, không biết luân phiên, nghe hiểu kém, không biết sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp). Nếu xây dựng được các biện pháp phát triển KNGT một cách đồng bộ từ gia đình đến nhà trường và xã hội, gắn kết giữa can thiệp và giáo dục, tạo cơ hội cho trẻ hòa nhập cộng đồng, trải nghiệm và luyện tập kỹ năng thì sẽ nâng cao hiệu quả chăm sóc giáo dục và phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển KNGT của trẻ tự kỷ.
    2. Nghiên cứu, đánh giá thực trạng KNGT của trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi; thực trạng các biện pháp giao tiếp của giáo viên với trẻ trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học ở trường mầm non; xác định các yếu tố ảnh hưởng.
    3. Đề xuất các biện pháp phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi và tổ chức thực nghiệm sư phạm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về đối tượng: Trẻ tự kỷ độ tuổi 3 - 4 đang theo học tại các lớp hòa nhập ở trường mầm non. Luận án loại trừ trẻ tự kỷ đi kèm hội chứng Asperger, rối loạn phân rã tuổi ấu thơ, rối loạn phát triển lan tỏa không biệt định và hội chứng Rett.
    • Về địa bàn: Khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm tại 03 trường mầm non có trẻ tự kỷ học hòa nhập trên địa bàn thành phố Hà Nội: Trường Mầm non Thực hành Hoa Sen (quận Ba Đình), Trường Mầm non Justkids (quận Cầu Giấy), và Trường Mầm non Yên Hòa (quận Cầu Giấy).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã tổng hợp hệ thống tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung chính:

Các nghiên cứu trên thế giới

  • Lịch sử phát hiện và mô tả hội chứng: Jean Marc Itard (1774 - 1838) với ghi chép về cậu bé dã man Victor; Eugen Bleuler (1919) đưa ra thuật ngữ "Autism"; Leo Kanner (1943) mô tả lâm sàng đầu tiên về chứng tự kỷ sớm ở trẻ em qua công trình Autism Disturbance of Affective Contact; Hans Asperger (1944) mô tả nhóm trẻ có suy luận rườm rà, quan hệ xã hội kém nhưng có trí nhớ và sở thích toán học/kỹ thuật vượt trội; Michael Rutter (thập niên 1960) chứng minh cách chăm sóc của cha mẹ không phải nguyên nhân chính gây tự kỷ; Lorna Wing (1978, 1979) đưa ra khái niệm phổ tự kỷ (Autistic Spectrum Disorder) và phân tích trường hợp "sư huynh Juniper".
  • Công cụ chẩn đoán và sàng lọc: Baron-Cohen, Allen và Gilber (1996) xây dựng Bảng đánh giá tự kỷ ở trẻ nhỏ (CHAT); Robins, Fein, Barton và Green (2001) bổ sung phát triển thành bảng M-CHAT; Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ ban hành Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần DSM-IV (1994); Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ban hành Bảng phân loại quốc tế ICD; Eric Schopler phát triển Thang đánh giá tự kỷ tuổi ấu thơ CARS; các bộ công cụ ADI-R, ADOS, GARS.
  • Phương pháp can thiệp và phát triển giao tiếp: Ivar Lovaas (1990) nghiên cứu Ứng dụng phân tích hành vi (ABA); Andrew Bondy và Lori Frost nghiên cứu Hệ thống giao tiếp qua trao đổi tranh (PECS); Eric Schopler cùng cộng sự phát triển mô hình TEACCH; Kak-Hai-Nodich (Đức) nghiên cứu các giai đoạn luyện âm, luyện giọng, luyện nói cho trẻ; Linda Maget giới thiệu kỹ năng giao tiếp xã hội qua việc tạo môi trường kết bạn; Steven Gutstein nghiên cứu phương pháp can thiệp phát triển quan hệ (RDI) thông qua việc nhận thức bản thân, đồ vật và thế giới xung quanh.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Phát hiện, phổ biến kiến thức và can thiệp sớm: Nguyễn Văn Thành (cuốn Trẻ em tự kỷ - phương thức giáo dục); Vũ Thị Bích Hạnh (2009, cuốn Trẻ tự kỷ - phát hiện sớm và can thiệp sớm); Võ Nguyễn Tinh Vân (2006, 2008 với các tài liệu Nuôi con bị tự kỷ, Để hiểu tự kỷ, Tự kỷ và trị liệu); các hoạt động tập huấn của Câu lạc bộ gia đình trẻ tự kỷ Hà Nội (thành lập năm 2002).
  • Phương pháp dạy học và can thiệp chuyên biệt: Đỗ Thị Thảo (2004) nghiên cứu xây dựng kế hoạch hỗ trợ giáo viên và cha mẹ có con tự kỷ; Nguyễn Nữ Tâm An (2007) nghiên cứu vận dụng phương pháp TEACCH; Đào Thu Thủy (2008) thiết kế 20 bài tập phát triển giao tiếp tổng thể cho trẻ 24 - 36 tháng dành cho phụ huynh (chưa thực nghiệm); Ngô Xuân Điệp (2009) nghiên cứu thực trạng nhận thức của trẻ tự kỷ tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Lý luận về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp: Các công trình của Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Quang Uẩn; Nguyễn Hoàng Anh nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm; Hoàng Thị Phương (2003) nghiên cứu giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 - 6 tuổi.

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù các tài liệu trong nước và quốc tế đã cung cấp cơ sở chẩn đoán và các kỹ thuật can thiệp hành vi, nhưng vẫn thiếu vắng các công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về biện pháp sư phạm nhằm phát triển toàn diện 5 kỹ năng giao tiếp nền tảng (tập trung chú ý, bắt chước, luân phiên, nghe hiểu, sử dụng ngôn ngữ) cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi ngay trong bối cảnh lớp học mầm non hòa nhập tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tiếp cận vấn đề giao tiếp và can thiệp giáo dục dựa trên các lý thuyết tâm lý học và giáo dục học:

  • Khái niệm Kỹ năng: Tổng hợp từ hai khuynh hướng (khuynh hướng kỹ thuật hành động của V. Covaliop, Trần Trọng Thủy, V.A. Krutetski và khuynh hướng năng lực hành động của N. Coluvep, Lê Văn Hồng, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Quang Uẩn). Luận án xác định: Kỹ năng là khả năng con người thực hiện thuần thục hành động dựa trên kinh nghiệm bản thân qua quá trình rèn luyện để đạt kết quả mong đợi.
  • Khái niệm Giao tiếp và Kỹ năng giao tiếp: Vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp của A.N. Leontiev, quan điểm giao tiếp "chủ thể - chủ thể" của B.F. Lomov, lý thuyết tiếp thu kinh nghiệm lịch sử - xã hội của L.S. Vygotsky, các bước giao tiếp của P. Dakharop, phân loại 3 nhóm kỹ năng của A. Kurbawa và Ph. Rakhmatinlira, cùng mô hình kỹ năng giao tiếp sớm của Vũ Thị Bích Hạnh. Luận án định nghĩa: KNGT là khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết tổ chức, điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích.
  • Khung 5 kỹ năng giao tiếp cốt lõi của trẻ tự kỷ: (1) Kỹ năng tập trung chú ý; (2) Kỹ năng bắt chước; (3) Kỹ năng luân phiên; (4) Kỹ năng nghe hiểu ngôn ngữ; (5) Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ.
  • Bản chất Giáo dục hòa nhập: Dựa trên quan điểm xã hội về khuyết tật (UNESCO, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam), xác định trẻ khuyết tật học chung với trẻ bình thường tại trường phổ thông, lấy trẻ làm trung tâm, có sự điều chỉnh chương trình, phương pháp và sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các tài liệu khoa học để xác lập khung khái niệm công cụ.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát: Theo dõi, ghi chép nhật ký, ghi biên bản, thu âm, ghi hình (video) các biểu hiện giao tiếp của trẻ tự kỷ và hoạt động tổ chức giáo dục của giáo viên trong lớp hòa nhập.
    • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi và phỏng vấn sâu: Trưng cầu ý kiến và phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên mầm non và phụ huynh trẻ tự kỷ về thực trạng phát triển KNGT và các biện pháp can thiệp.
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên gia trong các lĩnh vực y tế, tâm lý học, giáo dục đặc biệt và giáo viên mầm non giàu kinh nghiệm.
    • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Khảo sát sâu và can thiệp thực nghiệm trên 05 trường hợp trẻ tự kỷ điển hình (3 - 4 tuổi).
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế và triển khai Kế hoạch giáo dục cá nhân (KHGDCN), đo đạc mức độ tiến bộ qua các giai đoạn.
  3. Công cụ chẩn đoán và đánh giá:
    • Bảng kiểm M-CHAT (23 câu hỏi sàng lọc nguy cơ tự kỷ).
    • Sổ tay chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần DSM-IV.
    • Thang chẩn đoán tự kỷ tuổi ấu thơ CARS (15 lĩnh vực, thang điểm 1 - 4).
    • Bảng liệt kê kỹ năng phát triển D.I trong Quyển 8 chương trình Small Steps (Từng bước nhỏ).
    • Bảng tiêu chí đánh giá 5 KNGT do tác giả xây dựng (thang điểm 1 - 3 tương ứng với các mức độ độc lập, có hỗ trợ, không thực hiện được).
  4. Phương pháp thống kê toán học: Dữ liệu định lượng từ các phiếu điều tra và kết quả thực nghiệm được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 (tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình cộng, độ lệch chuẩn).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự kỷ và kỹ năng giao tiếp ở lứa tuổi mầm non:

  • Khái niệm và nguyên nhân tự kỷ: Luận án sử dụng định nghĩa của Liên Hợp Quốc (2008), xác định tự kỷ là khuyết tật phát triển suốt đời do rối loạn thần kinh ảnh hưởng chức năng não bộ, xuất hiện trong 3 năm đầu đời. Về nguyên nhân, luận án tổng hợp các giả thuyết: tổn thương não bộ sơ sinh (đẻ non dưới 37 tuần, ngạt khí, vàng da nhân); bất thường di truyền trên nhiễm sắc thể số 11 (gen Neurexin 1); nhiễm độc thủy ngân; tổn thương màng thẩm thấu đường ruột làm độc tố ngấm vào máu lên não (hội nghị DAN 2007); các yếu tố môi trường (mẹ căng thẳng, nhiễm virus Rubella trước sinh; gia đình thiếu tương tác, cho trẻ xem tivi quá nhiều trong 24 tháng đầu).
  • Đặc điểm tâm lý của trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi:
    • Cảm giác: Rối loạn điều hòa cảm giác (ngưỡng cảm giác quá cao hoặc quá thấp).
    • Tư duy - tưởng tượng: Trí nhớ máy móc ("học vẹt") tốt, tri giác không gian tốt nhưng tư duy trừu tượng kém, không hiểu nghĩa bóng/ẩn dụ, thiếu khả năng chơi tưởng tượng và chơi đóng vai.
    • Hành vi: Xuất hiện hành vi rập khuôn định hình (lắc lư, xoay tròn đồ vật, bật tắt công tắc liên tục), chống đối sự thay đổi môi trường quen thuộc, gắn bó bất thường với vật vô tri (vỏ chai, dây chun, túi nilon), la hét, giận dữ hoặc tự gây thương tích.
    • Chú ý và cảm xúc: Tập trung kém, dễ phân tán, khó khăn trong chia sẻ chú ý (joint attention); biểu cảm cảm xúc nghèo nàn, không phân biệt rõ nét mặt khi vui/buồn.
    • Tương tác xã hội và giao tiếp: Giảm tương tác mắt, tránh né tiếp xúc, không phản ứng khi gọi tên, không dùng cử chỉ chỉ trỏ để chia sẻ. Khả năng nghe hiểu bị trì hoãn do tốc độ xử lý thông tin chậm; diễn đạt lời nói bất thường với hai dạng nhại lời đặc trưng: nhại lời ngay lập tức (lặp lại nguyên văn câu nói vừa nghe) và nhại lời trì hoãn (nhắc lại đoạn hội thoại/quảng cáo nghe từ trước nhưng không hiểu ngữ cảnh).
  • Khung phát triển KNGT: Luận án làm rõ ý nghĩa, mục tiêu, con đường (qua hoạt động học tập, vui chơi, sinh hoạt hàng ngày tại gia đình và lớp mầm non) và các yếu tố ảnh hưởng (năng lực nhận thức của trẻ, năng lực chuyên môn của giáo viên, môi trường giáo dục hòa nhập, sự phối hợp của phụ huynh).

Chương 2: Cơ sở thực tiễn và đề xuất biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng và hệ thống các biện pháp đề xuất:

  • Thực trạng kỹ năng giao tiếp và giáo dục hòa nhập:
    • Kết quả khảo sát nhận thức (Bảng 2.1) cho thấy đa số cán bộ quản lý và giáo viên đều đánh giá việc phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ là "rất cần thiết" và "cần thiết".
    • Thống kê mô tả thực trạng 5 KNGT của trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi trước tác động (Bảng 2.2 đến Bảng 2.7) chỉ ra: điểm trung bình ở cả 5 kỹ năng đều ở mức thấp. Kỹ năng luân phiên và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ là hai kỹ năng đạt điểm thấp nhất; trẻ gặp khó khăn lớn trong việc kiên nhẫn chờ đợi đến lượt và khởi xướng hội thoại.
Kỹ năng giao tiếp khảo sát Mức độ biểu hiện thực tế ở trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi
Kỹ năng tập trung chú ý Thời gian chú ý ngắn, phân tán nhanh, ít nhìn mắt đối tượng giao tiếp
Kỹ năng bắt chước Khó khăn khi bắt chước động tác vận động tinh và bắt chước phát âm/từ ngữ
Kỹ năng luân phiên Kém kiên nhẫn, không tuân thủ quy tắc lần lượt trong trò chơi và hội thoại
Kỹ năng nghe hiểu ngôn ngữ Hiểu chậm, chỉ hiểu mệnh lệnh đơn giản kèm trực quan, không hiểu câu phức
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Vốn từ nghèo nàn, nói nhại lời, khó tạo câu hoàn chỉnh, chủ yếu dùng cử chỉ kéo tay
  • Hệ thống biện pháp đề xuất:
    • Nguyên tắc xây dựng biện pháp: Đảm bảo tính mục tiêu; tính hệ thống và đồng bộ; tính cá biệt hóa (phù hợp với khả năng từng trẻ); kết hợp chặt chẽ giữa can thiệp cá nhân và giáo dục hòa nhập; phối hợp gia đình - nhà trường.
    • Các nhóm biện pháp cụ thể:
      1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường giao tiếp thuận lợi trong lớp học hòa nhập (bố trí góc can thiệp cá nhân, giảm thiểu các kích thích phân tán thị giác/thính giác, sắp xếp đồ dùng trực quan rõ ràng).
      2. Biện pháp 2: Xây dựng và thực hiện Kế hoạch giáo dục cá nhân (KHGDCN) điều chỉnh mục tiêu, nội dung phát triển 5 KNGT phù hợp với năng lực thực tế của từng trẻ.
      3. Biện pháp 3: Sử dụng hệ thống hỗ trợ thị giác và công cụ trực quan (tranh ảnh, thẻ biểu tượng PECS, lịch trình hoạt động bằng hình ảnh) để phát triển kỹ năng nghe hiểu và diễn đạt.
      4. Biện pháp 4: Tổ chức các trò chơi tương tác luân phiên và trò chơi đóng vai có chủ đề nhằm rèn luyện kỹ năng tập trung chú ý, bắt chước và chờ đợi đến lượt.
      5. Biện pháp 5: Tận dụng các thời điểm sinh hoạt hàng ngày (đón trẻ, ăn trưa, vệ sinh, hoạt động góc, trả trẻ) để tạo tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp chủ động bằng lời nói.
      6. Biện pháp 6: Phối hợp đồng bộ giữa giáo viên mầm non, giáo viên giáo dục đặc biệt và phụ huynh trong việc duy trì, củng cố KNGT của trẻ tại gia đình qua tài liệu hướng dẫn chuyên biệt.

Chương 3: Thực nghiệm biện pháp phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ 3 – 4 tuổi

Chương 3 trình bày tiến trình và kết quả thực nghiệm sư phạm trên 05 trường hợp nghiên cứu điển hình:

  • Tổ chức thực nghiệm: Chọn 05 trẻ tự kỷ (3 - 4 tuổi) học hòa nhập tại 3 trường mầm non (Hoa Sen, Justkids, Yên Hòa), gồm: Bé Nh.A, Bé DA, Bé MĐ, Bé ĐA, Bé DKH. Tiến hành đánh giá đầu vào (trước thực nghiệm - TN), xây dựng KHGDCN (Phụ lục 4A - 4E), áp dụng các biện pháp tác động trong quá trình học tập hòa nhập kết hợp can thiệp cá nhân, tiến hành đo lường định kỳ qua các lần đo và đánh giá tổng kết sau thực nghiệm.
  • Kết quả thực nghiệm trên 05 trường hợp:
Trường hợp Mức độ tự kỷ ban đầu (CARS) Kỹ năng chuyển biến rõ nét nhất Điểm TB KNGT trước TN Điểm TB KNGT sau TN
Bé Nh.A Tự kỷ nhẹ đến vừa Sử dụng ngôn ngữ, nhìn mắt khi giao tiếp Thấp Tăng rõ rệt qua 3 lần đo
Bé DA Tự kỷ nhẹ đến vừa Tập trung chú ý, giảm hành vi rời chỗ Thấp Tăng rõ rệt
Bé MĐ Tự kỷ nhẹ đến vừa Kỹ năng luân phiên, chờ đợi đến lượt Rất thấp Tăng rõ rệt
Bé ĐA Tự kỷ nhẹ Kỹ năng bắt chước hành động và phát âm Thấp Đạt mức độc lập nhiều tiêu chí
Bé DKH Tự kỷ nhẹ đến vừa Nghe hiểu mệnh lệnh, giảm nhại lời Thấp Tăng rõ rệt
  • Bình luận kết quả: Kết quả xử lý thống kê mô tả (Bảng 3.1 - 3.7 và Biểu đồ 3.1 - 3.22) cho thấy điểm số trung bình của 5 KNGT ở cả 5 trường hợp sau thực nghiệm đều có sự tăng trưởng có ý nghĩa so với trước thực nghiệm. Trẻ tăng khả năng tập trung chú ý khi cô giáo gọi tên, biết thực hiện theo hiệu lệnh, biết chơi luân phiên cùng bạn trong hoạt động góc và biết sử dụng từ ngữ đơn giản để diễn đạt nhu cầu thay vì chỉ kéo tay người lớn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án làm sáng tỏ và hệ thống hóa các khái niệm công cụ: kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ, biện pháp phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ trong môi trường giáo dục mầm non hòa nhập.
  2. Xác lập khung cấu trúc 5 kỹ năng giao tiếp nền tảng cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi gồm: tập trung chú ý, bắt chước, luân phiên, nghe hiểu ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ.
  3. Xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng và vai trò tác động sư phạm của giáo viên mầm sinh trong việc tổ chức môi trường hòa nhập, làm phong phú thêm lý luận chuyên ngành Lí luận và Lịch sử giáo dục (Giáo dục đặc biệt).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phản ánh bức tranh thực trạng KNGT của trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi tại các lớp mầm non hòa nhập trên địa bàn Hà Nội thông qua các số liệu khảo sát định lượng cụ thể.
  2. Xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm khả thi, có quy trình tổ chức rõ ràng, gắn kết giữa can thiệp cá nhân với hoạt động nhóm trong lớp hòa nhập.
  3. Cung cấp bộ công cụ đánh giá 5 KNGT và mẫu Kế hoạch giáo dục cá nhân (KHGDCN) kèm theo tài liệu hướng dẫn phụ huynh phối hợp rèn luyện KNGT cho trẻ tại gia đình, có giá trị ứng dụng trực tiếp cho giáo viên mầm non và các cơ sở giáo dục can thiệp sớm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khách thể giới hạn ở nhóm trẻ tự kỷ độ tuổi 3 - 4 học hòa nhập; chưa bao quát các độ tuổi khác của giáo dục mầm non (nhà trẻ 24 - 36 tháng hoặc mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi).
    • Nghiên cứu không khảo sát các dạng rối loạn phát triển khác đi kèm (hội chứng Asperger, Rett, rối loạn phân rã).
    • Thực nghiệm sư phạm tiến hành theo phương pháp nghiên cứu trường hợp trên 05 trẻ tại địa bàn Hà Nội, chưa mở rộng quy mô thực nghiệm đối chứng đa trung tâm trên các vùng miền khác nhau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu mở rộng hệ thống biện pháp phát triển KNGT cho trẻ tự kỷ ở các giai đoạn chuyển tiếp (từ mầm non lên lớp 1 tiểu học).
    • Ứng dụng công nghệ hỗ trợ và các phần mềm kỹ thuật số vào việc tăng cường giao tiếp bổ trợ (AAC) cho trẻ tự kỷ trong môi trường hòa nhập.
    • Theo dõi dọc sự duy trì và phát triển bền vững các KNGT của trẻ tự kỷ qua các cấp học tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Ngành Giáo dục đặc biệt, Giáo dục mầm non, Tâm lý học phát triển có thể tham khảo khung lý luận, hệ thống công cụ chẩn đoán (CARS, M-CHAT, Small Steps) và phương pháp nghiên cứu trường hợp trong giáo dục hòa nhập.
  • Giáo viên mầm sinh dạy lớp hòa nhập: Sử dụng quy trình lập Kế hoạch giáo dục cá nhân (KHGDCN), tiêu chí đánh giá KNGT và các biện pháp tổ chức trò chơi tương tác, sử dụng hỗ trợ thị giác trong hoạt động học tập và sinh hoạt hàng ngày.
  • Cán bộ quản lý và chuyên viên can thiệp sớm: Tham khảo cơ sở thực tiễn để xây dựng chương trình tập huấn nâng cao năng lực dạy trẻ hòa nhập cho đội ngũ giáo viên mầm non.
  • Phụ huynh có con tự kỷ: Tiếp cận các hướng dẫn cụ thể về cách thức giao tiếp, tạo tình huống tương tác và phối hợp với nhà trường để rèn luyện kỹ năng cho con tại gia đình.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tập trung phát triển những kỹ năng giao tiếp cụ thể nào cho trẻ tự kỷ?

Luận án tập trung vào 5 kỹ năng giao tiếp nền tảng:

  1. Kỹ năng tập trung chú ý: Rèn luyện khả năng giao tiếp mắt, chú ý chung vào đồ vật/hoạt động theo yêu cầu của giáo viên.
  2. Kỹ năng bắt chước: Dạy trẻ bắt chước các cử chỉ, động tác vận động và bắt chước phát âm/lời nói của người khác.
  3. Kỹ năng luân phiên: Rèn luyện quy tắc lần lượt, biết chờ đợi đến lượt mình trong trò chơi và trong giao tiếp.
  4. Kỹ năng nghe hiểu ngôn ngữ: Giúp trẻ hiểu và thực hiện các mệnh lệnh, chỉ dẫn bằng lời nói từ đơn giản đến phức tạp có hỗ trợ trực quan.
  5. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ: Dạy trẻ sử dụng từ ngữ, câu nói kết hợp cử chỉ/tranh ảnh để chủ động bày tỏ nhu cầu và tương tác với mọi người xung quanh.

2. Các công cụ nào được sử dụng để sàng lọc, chẩn đoán và đánh giá trẻ trong luận án?

Tác giả đã sử dụng phối hợp các công cụ:

  • Bảng kiểm M-CHAT (2001): 23 câu hỏi dùng để sàng lọc phát hiện nguy cơ tự kỷ.
  • Sổ tay DSM-IV (1994): Tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng các rối loạn phát triển lan tỏa.
  • Thang CARS: Đánh giá 15 lĩnh vực hành vi nhằm xác định mức độ tự kỷ (nhẹ, vừa, nặng).
  • Bảng D.I (Quyển 8 chương trình Small Steps): Đánh giá mức độ phát triển kỹ năng thực tế của trẻ.
  • Bảng tiêu chí đánh giá 5 KNGT: Do tác giả xây dựng để đo đạc sự tiến bộ của trẻ qua các lần đo thực nghiệm.

3. Quy mô và đối tượng thực nghiệm sư phạm của đề tài được triển khai như thế nào?

Thực nghiệm sư phạm được triển khai theo phương pháp nghiên cứu trường hợp trên 05 trẻ tự kỷ (3 - 4 tuổi), gồm: Bé Nh.A, Bé DA, Bé MĐ, Bé ĐA, Bé DKH. Các trẻ này theo học lớp mầm non hòa nhập tại 03 trường trên địa bàn Hà Nội: Mầm non Thực hành Hoa Sen (quận Ba Đình), Mầm non Justkids (quận Cầu Giấy) và Mầm non Yên Hòa (quận Cầu Giấy).

4. Hai dạng nhại lời ở trẻ tự kỷ được tác giả phân tích trong cơ sở lý luận là gì?

Luận án chỉ ra 2 dạng nhại lời chính:

  • Nhại lời ngay lập tức: Trẻ lặp lại ngay lập tức câu từ vừa nghe được từ người đối diện (thể hiện khả năng lưu giữ âm thanh trong trí nhớ ngắn hạn nhưng chưa xử lý được ngữ nghĩa).
  • Nhại lời trì hoãn: Trẻ lặp lại một cách máy móc các đoạn hội thoại, câu nói trong quảng cáo tivi hoặc sách báo đã nghe từ trước vào hoàn cảnh hiện tại mà không hiểu ý nghĩa giao tiếp.

5. Những đối tượng trẻ tự kỷ nào bị loại trừ khỏi phạm vi nghiên cứu của luận án?

Luận án không nghiên cứu các trường hợp trẻ tự kỷ đi kèm hội chứng Asperger (tự kỷ chức năng cao không trì hoãn ngôn ngữ), rối loạn phân rã tuổi ấu thơ (thoái lùi phát triển nghiêm trọng), rối loạn phát triển lan tỏa không biệt định (PDD-NOS) và hội chứng Rett.


Kết luận

Luận án "Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi" của tác giả Nguyễn Thị Thanh là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lí luận và Lịch sử giáo dục, giải quyết vấn đề can thiệp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ trong môi trường giáo dục mầm non hòa nhập. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác lập khung 5 kỹ năng giao tiếp cốt lõi và đánh giá thực trạng giao tiếp của trẻ tự kỷ 3 - 4 tuổi tại các trường mầm non ở Hà Nội. Hệ thống các biện pháp sư phạm đề xuất đã được kiểm chứng qua thực nghiệm trên 05 trường hợp nghiên cứu điển hình, chứng minh tính khả thi trong việc nâng cao khả năng chú ý, bắt chước, luân phiên, nghe hiểu và sử dụng ngôn ngữ của trẻ, cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho giáo viên mầm non và phụ huynh.