Tổng quan nghiên cứu

Sự chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những bước ngoặt lịch sử quan trọng nhất của Việt Nam. Trong tiến trình đổi mới, kinh tế tư nhân đã từng bước khẳng định vị thế là động lực tăng trưởng quan trọng, đóng góp tới 42,3% GDP toàn quốc và giải quyết việc làm cho 21,326 triệu lao động thường xuyên vào năm 2000 (chiếm 56,3% tổng lực lượng lao động cả nước).

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc hệ thống hóa, phân tích tiến trình đổi mới tư duy, sự lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với khu vực kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2004. Mục tiêu cụ thể của đề tài là làm sáng tỏ quá trình thay đổi nhận thức lý luận từ Đại hội VII (năm 1991) đến Đại hội IX (năm 2001), đánh giá toàn diện những thành tựu vượt bậc cũng như các hạn chế cố hữu của ba bộ phận cấu thành kinh tế tư nhân: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trong bối cảnh đất nước hoàn thành kế hoạch 5 năm (1991-1995, 1996-2000) và bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005. Công trình mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, không chỉ đúc kết những bài học kinh nghiệm lịch sử quý báu về quản lý vĩ mô mà còn cung cấp cơ sở khoa học định hướng cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong các giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan điểm của V.I. Lênin về sự tồn tại khách quan tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần, bao gồm kinh tế xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư bản chủ nghĩa và kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ. Bên cạnh đó, nghiên cứu dựa trên quy luật biện chứng về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khẳng định chừng nào lực lượng sản xuất chưa cho phép xã hội hóa hoàn toàn thì sở hữu tư nhân vẫn là một động lực kinh tế không thể xóa bỏ bằng mệnh lệnh hành chính.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Kinh tế cá thể: Hình thức kinh tế thuộc sở hữu tư nhân của hộ gia đình hoặc cá nhân, hoàn toàn dựa trên sức lao động của gia đình mà không thuê mướn nhân công.
  • Kinh tế tiểu chủ: Cơ sở kinh tế do cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, có sử dụng lao động thuê mướn ngoài lao động gia đình nhưng quy mô vốn và nhân lực nhỏ hơn doanh nghiệp.
  • Kinh tế tư bản tư nhân: Các tổ chức kinh doanh quy mô lớn hơn vận hành theo Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần) dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê theo cơ chế thị trường.
  • Kinh tế hộ nông dân: Đơn vị kinh tế tự chủ tại nông thôn gắn liền với cơ chế khoán sản phẩm và mô hình trang trại gia đình.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nhuần nhuyễn hai phương pháp nền tảng của khoa học Lịch sử Đảng là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Việc sử dụng phương pháp lịch sử giúp tái hiện chân thực, tuần tự các chủ trương, đường lối của Đảng qua từng kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương; phương pháp logic cho phép phân tích bản chất khách quan, khái quát hóa các quy luật phát triển và rút ra bài học kinh nghiệm lãnh đạo.

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng:

  • Hệ thống văn kiện chính thức của Đảng, bao gồm hơn 30 văn kiện, nghị quyết từ Đại hội VI đến Đại hội IX.
  • Hơn 60 văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước (Hiến pháp năm 1992, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, các Nghị định chuyên ngành).
  • Dữ liệu định lượng từ Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê giai đoạn 1975-2004 và dữ liệu thực chứng từ công trình điều tra quy mô quốc gia năm 1993 trên 100 doanh nghiệp tư nhân tại 16 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
  • Lý do lựa chọn các phương pháp thống kê toán học, so sánh đối chiếu liên kỳ (1991-1995 so với 1996-2000 và 2001-2004) nhằm đảm bảo tính khách quan, định lượng hóa được tác động thực tế của đường lối lãnh đạo vào đời sống kinh tế - xã hội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn 1991-2004 đã tạo ra những chuyển biến mang tính bước ngoặt đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, được minh chứng qua các chỉ số định lượng cụ thể:

Thứ nhất, số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân gia tăng vượt bậc. Trong khu vực cá thể, tiểu chủ, nếu năm 1990 cả nước chỉ có khoảng 840.000 cơ sở thì đến năm 1992 (sau Nghị định số 221/HĐBT) đã tăng lên 1,6 triệu hộ và đạt 2,2 triệu cơ sở vào năm 1995. Tốc độ gia tăng bình quân giai đoạn 1990-1995 đạt hơn 20%/năm (trung bình mỗi năm tăng 553.775 cơ sở). Đối với khu vực doanh nghiệp tư bản tư nhân (gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần), số lượng đăng ký đã nhảy vọt từ 414 đơn vị năm 1991 lên 5.200 đơn vị năm 1992, và đến cuối năm 2001 đã đạt trên 66.000 doanh nghiệp (tăng hơn 536 lần so với con số 123 doanh nghiệp đăng ký ban đầu vào năm 1991).

Thứ hai, đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP và tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng trưởng ổn định. Giá trị GDP khu vực kinh tế tư nhân tạo ra tăng từ 102.468 tỷ đồng năm 1995 lên 151.388 tỷ đồng năm 1998 và chiếm 42,3% tổng GDP toàn quốc vào năm 2000. Trong đó, khối phi nông nghiệp đóng góp 26,87% GDP và khối nông nghiệp chiếm 15,4% GDP cả nước. Về mặt vốn, đến ngày 1/1/1994, dù vốn điều lệ đăng ký của các công ty và doanh nghiệp tư nhân chỉ ở mức 232 tỷ đồng nhưng vốn thực tế đưa vào chu chuyển kinh doanh đạt tới 8.128 tỷ đồng (tăng 349% so với vốn điều lệ), chứng minh năng lực huy động nguồn lực tài chính nhàn rỗi rất lớn trong nhân dân.

Thứ ba, khu vực tư nhân đóng vai trò trụ cột trong việc giải tỏa áp lực việc làm xã hội. Trong giai đoạn 1990-1993, kinh tế tư nhân đã tiếp nhận và tạo việc làm mới cho 2,0 triệu lao động (trong đó 35% là thanh niên đến tuổi lao động, 25% là cán bộ công nhân viên dôi dư do sắp xếp lại khu vực nhà nước, 12% là bộ đội phục viên). Đến năm 2000, tổng số lao động làm việc thường xuyên trong khu vực kinh tế tư nhân đạt 21,326 triệu người, chiếm 56,3% tổng số lao động có việc làm của toàn nền kinh tế.

Thảo luận kết quả

Sự bứt phá của kinh tế tư nhân phản ánh sự giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất khi các rào cản thể chế được dỡ bỏ. Dữ liệu thực nghiệm qua các bảng biểu và phụ lục thống kê của luận văn cho thấy bức tranh phân bổ ngành nghề rõ nét: khu vực tư nhân có xu hướng tập trung mật thiết vào thương mại, dịch vụ (chiếm 55% số cơ sở cá thể và 49% số doanh nghiệp giai đoạn 1997-1998), tiếp đến là công nghiệp - chế biến (chiếm khoảng 26,3% số cơ sở cá thể và 22% số doanh nghiệp), trong khi nông nghiệp trực tiếp chỉ chiếm khoảng 18,8%.

Đặc biệt, sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2000) cùng quyết định bãi bỏ hơn 100 loại giấy phép kinh doanh trái quy định của Thủ tướng Chính phủ đã kích hoạt làn sóng thành lập doanh nghiệp mới, làm thay đổi căn bản cơ chế quản lý từ "tiền kiểm" nặng nề sang "hậu kiểm". Về mặt hiệu quả tài chính, tỷ suất lợi nhuận bình quân trên vốn của khu vực kinh tế tư nhân giai đoạn 1991-1994 đạt khoảng 2,16%/năm, cao hơn gấp đôi so với mức 0,97%/năm của khu vực doanh nghiệp nhà nước dù chỉ nắm giữ khoảng 10% tổng vốn kinh doanh xã hội.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ rõ những điểm nghẽn nội tại:

  • Quy mô doanh nghiệp chủ yếu ở mức siêu nhỏ và nhỏ: Năm 1998, có tới 25.399 doanh nghiệp (chiếm 97,6% trong tổng số 26.021 doanh nghiệp tư nhân khảo sát) có quy mô dưới 100 lao động; chỉ có 682 doanh nghiệp sử dụng trên 100 lao động.
  • Năng lực công nghệ lạc hậu, tình trạng trốn thuế, gian lận thương mại và vi phạm quy định môi trường còn phổ biến do thiếu cơ chế giám sát đồng bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên những bài học đúc kết từ thực tiễn lãnh đạo giai đoạn 1991-2004, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển:

  • Hoàn thiện khung khổ pháp lý và bảo vệ quyền sở hữu: Quốc hội và Chính phủ cần tiếp tục rà soát, cắt giảm 100% các rào cản hành chính bất hợp lý và giấy phép con không cần thiết; hoàn thiện các quy định bảo hộ quyền tài sản, vốn đầu tư hợp pháp của doanh nhân tư nhân, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình giai đoạn 2005-2010.
  • Mở rộng chính sách tín dụng và hỗ trợ vốn: Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tài chính cần thiết lập cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), đơn giản hóa thủ tục thế chấp tài sản, đặt mục tiêu giải ngân và huy động khoảng 30% đến 40% nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư phục vụ trực tiếp cho hoạt động đầu tư công nghiệp chế biến và sản xuất xuất khẩu.
  • Đổi mới công tác quản lý nhà nước và thanh tra, kiểm tra: Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và chính quyền các địa phương cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi phương thức thanh tra sang đánh giá mức độ rủi ro, phòng chống tiêu cực nhũng nhiễu; phấn đấu nâng tỷ trọng đóng góp ngân sách nhà nước từ khu vực kinh tế tư nhân tăng trưởng ổn định từ 15% đến 20% hàng năm.
  • Nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh liên kết kinh tế: Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức các chương trình đào tạo quản trị doanh nghiệp hiện đại, xúc tiến thương mại quốc tế, thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân tham gia làm nhà cung ứng vệ tinh cho các tập đoàn nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), phấn đấu nâng tỷ lệ doanh nghiệp có quy mô trên 100 lao động từ mức dưới 3% lên 10% trong vòng 5 năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp khối lượng tư liệu lịch sử, kinh tế phong phú cùng các phân tích thực chứng sâu sắc, phù hợp cho nhiều nhóm độc giả chuyên ngành:

  • Cơ quan hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước: Cung cấp bài học kinh nghiệm sâu sắc về việc thể chế hóa đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật kinh tế, giúp nâng cao hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
  • Giảng viên, nghiên cứu viên chuyên ngành Lịch sử Đảng và Kinh tế chính trị: Là tài liệu tham khảo chuẩn xác với hệ thống trích dẫn văn kiện, số liệu thống kê liên kỳ phục vụ biên soạn giáo trình và triển khai các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
  • Hiệp hội doanh nghiệp và các chủ doanh nghiệp tư nhân: Giúp nhận thức rõ bối cảnh lịch sử, tiến trình phát triển và các quyền lợi pháp lý căn bản để chủ động hoạch định chiến lược kinh doanh bền vững.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành khoa học xã hội: Hỗ trợ khung phương pháp luận lịch sử - logic và cách thức xử lý dữ liệu thống kê phục vụ thực hiện các khóa luận, luận văn tốt nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Đâu là bước ngoặt căn bản trong nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân thời kỳ 1991-2004? Bước ngoặt căn bản là sự chuyển biến từ nhận thức coi kinh tế tư nhân là đối tượng cần cải tạo, xóa bỏ sang thừa nhận kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế tồn tại khách quan, lâu dài và là động lực quan trọng của nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa.

2. Khu vực kinh tế tư nhân đã giải quyết bài toán việc làm trong giai đoạn 1990-1995 như thế nào? Kinh tế tư nhân đã trở thành kênh hấp thụ lao động lớn nhất của xã hội, giải quyết việc làm cho 2,0 triệu người giai đoạn 1990-1993 và thu hút hơn 10,211 triệu lao động vào năm 1992 (chiếm 32,0% lực lượng lao động cả nước), làm thay đổi căn bản tâm lý ỷ lại vào biên chế nhà nước.

3. Tác động nổi bật nhất của Luật Doanh nghiệp năm 1999 đối với kinh tế tư nhân là gì? Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã dỡ bỏ rào cản hành chính thông qua việc bãi bỏ hơn 100 loại giấy phép kinh doanh trái quy định, bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong các ngành nghề pháp luật không cấm, tạo nên làn sóng đăng ký doanh nghiệp mới với hơn 66.000 doanh nghiệp vào cuối năm 2001.

4. Đâu là điểm hạn chế lớn nhất của kinh tế tư nhân giai đoạn 1996-2000? Hạn chế lớn nhất là quy mô cơ sở sản xuất kinh doanh phần lớn ở mức siêu nhỏ và nhỏ, trong đó 97,6% doanh nghiệp có dưới 100 lao động, công nghệ máy móc còn thô sơ, thiếu nguồn vốn dài hạn và phân bổ chủ yếu vào thương mại, dịch vụ thay vì sản xuất chế tạo.

5. Luận văn đã sử dụng những nguồn dữ liệu nào để chứng minh sự phát triển của kinh tế tư nhân? Luận văn đã xử lý hệ thống dữ liệu toàn diện gồm hơn 30 văn kiện của Đảng, 60 văn bản quy phạm pháp luật, số liệu Niên giám Thống kê 1975-2004 của Tổng cục Thống kê và kết quả khảo sát thực tế từ 100 doanh nghiệp tại 16 tỉnh, thành phố.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh quá trình đổi mới nhận thức và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định đưa kinh tế tư nhân từ chỗ bị hạn chế trở thành thành phần kinh tế năng động, đóng góp 42,3% GDP cả nước vào năm 2000.
  • Khẳng định tính tất yếu khách quan của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam theo đúng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
  • Hệ thống hóa toàn diện các thành tựu phát triển vượt bậc về số lượng doanh nghiệp (tăng từ 414 đơn vị năm 1991 lên trên 66.000 đơn vị năm 2001) và năng lực giải quyết việc làm cho 21,326 triệu lao động xã hội.
  • Chỉ rõ những bài học kinh nghiệm sâu sắc về cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi tư duy quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm và hoàn thiện khung pháp lý cạnh tranh bình đẳng.
  • Nghiên cứu là nguồn tài liệu khoa học giá trị, cung cấp luận cứ lịch sử vững chắc phục vụ việc tiếp tục ban hành các nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế tư nhân trong các kỳ Đại hội tiếp theo của Đảng; độc giả quan tâm đến tiến trình đổi mới kinh tế Việt Nam nên khai thác trực tiếp toàn văn công trình này.