MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) (năm 1986) đã mở ra thời kỳ đổi mới toàn diện, triệt để và sâu sắc mọi mặt đời sống của đất nước, trong đó có lĩnh vực kinh tế, hướng tới thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trên cơ sở đó, tư duy và tầm nhìn về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) đã được nhìn nhận, đánh giá lại. Thực tế, sau hơn 35 năm Đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm phát triển và coi trọng các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân, bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, xác định “Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế”.
Thêm vào đó, Hội nghị lần thứ năm khoá XII Ban Chấp hành Trung ương Đảng (năm 2017) đã ban hành Nghị quyết về “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong đó, xác định rõ hơn và nhấn mạnh việc phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là yêu cầu tất yếu, khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Quan điểm mới này nhằm tiếp tục khẳng định, cụ thể hóa rõ hơn nhận thức, tư duy nhất quán và liên tục phát triển của Đảng đối với phát triển kinh tế tư nhân. Phát triển kinh tế tư nhân phải được thực hiện một cách đồng bộ, tổng thể cùng với các giải pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính công và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; do đó, Nghị quyết xác định: Phát triển kinh tế tư nhân là một phương sách quan trọng để huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển và giải phóng sức sản xuất.
(BCH TW ĐCSVN Khoá XII, n.) Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân ngày càng sáng tỏ, cùng các chính sách chung và các chính sách đặc thù được ban hành trong thời gian qua đã có tác động tích cực đến sự phát triển của kinh tế tư nhân. Trong giai đoạn 2001 - 2016, kinh tế tư nhân không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Doanh nghiệp tư nhân phát triển ở hầu hết các ngành, lĩnh vực và các vùng, miền, số lượng doanh nghiệp của tư nhân tăng nhanh, từ 55.236 doanh nghiệp năm 2002 thì đến năm 2016 đã có khoảng 500.000 doanh nghiệp với nhiều loại hình đa dạng. Hiệu quả, sức cạnh tranh của kinh tế tư nhân dân được nâng lên, tỷ lệ đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân trong tổng mức đầu tư toàn xã hội cả nước liên tục tăng từ 36,7% năm 2015, lên 38% năm 2017 và lên 46% năm 2020.
Khu vực kinh tế tư nhân cũng chiếm trên 85% lao động đang làm 1 việc của nền kinh tế; thu hút khối lượng vốn khá lớn từ nền kinh tế để đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh. Đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đạo đức, văn hoá kinh doanh của doanh nhân dần được nâng lên. Tuy nhiên, tại Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 của BCH TW Đảng khóa XII đã chỉ ra thực trạng: “KTTN chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế và khu vực kinh tế tư nhân cũng đang gặp phải rất nhiều khó khăn, hạn chế”.
Nghị quyết đã chỉ ra các vấn đề của môi trường kinh doanh thiếu bình đẳng, vốn tồn tại đã lâu nhưng chậm được khắc phục. Điều này làm cản trở sự phát triển của doanh nghiệp. Cùng với đó, hệ thống luật và việc thi hành luật có liên quan tới kinh tế tư nhân có nhiều rào cản và thiếu nhất quán gây ra những tranh cãi giữa doanh nghiệp (DN) và các cơ quan nhà nước. Chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp cao hơn so với các nước trong khu vực làm hạn chế khả năng sinh lời và làm chậm khả năng đầu tư phát triển.
Các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN có quy mô nhỏ và năng lực hoạt động khá yếu kém, chỉ có một số DN lớn có công nghệ hiện đại. Vì vậy, KTTN ở Việt Nam thiếu tính bền vững và khó phát triển về lâu dài… (T. Bên cạnh đó, ý chí kinh doanh, tâm lý đầu tư của doanh nhân Việt Nam chưa vững, khả năng tiếp cận tín dụng chưa cao và các yếu tố môi trường nội ngoại vi khác khiến cho khu vực KTTN phát triển chậm. Sự phát triển của doanh nghiệp khu vực KTTN tỉnh Tây Ninh cũng như khu vực miền Đông Nam Bộ không nằm ngoài bức tranh chung đó của cả nước.
Chính vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và những vấn đề đặt ra đến phát triển khu vực KTTN, trong đó tập trung là các doanh nghiệp trong nước để từ đó có những khuyến nghị về các chính sách, giải pháp để khu vực KTTN phát huy được vai trò động lực quan trọng là cần thiết. Đây cũng cũng chính là chủ trương và quan điểm của Đại hội XIII của ĐCSVN (2021), hướng tới việc tạo ra những đột phá mới thuận lợi cho phát triển của KTTN trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tinh thần “quốc gia khởi nghiệp” đang diễn ra. Tỉnh Tây Ninh nằm trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, đóng vai trò cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) và thủ đô Phnom Penh, Campuchia. Tây Ninh xếp thứ 37 cả nước về số dân, xếp thứ 28 về tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 14 về GRDP bình quân đầu người, xếp thứ 32 về tốc độ tăng trưởng GRDP.
Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) là vùng có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và có thu nhập bình quân đầu người cao nhất nước (TCTK, 2020), là vùng 2 có tỷ trọng GDP lớn nhất trong các vùng kinh tế của nước ta, đi đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế trong đó có sự đóng góp của các doanh nghiệp (DN) thuộc khu vực KTTN. Mặc dù vậy, sự phát triển của kinh tế tư nhân Tây Ninh vẫn được đánh giá là còn nhiều hạn chế, chưa phản ánh đúng tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Tốc độ phát triển kinh tế tư nhân còn chậm hơn so với kỳ vọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Tây Ninh, chậm hơn so với tốc độ tăng trường kinh tế trung bình của khu vực miền Đông Nam bộ, tính cạnh tranh thấp, giá trị vốn hóa, giá trị sản xuất và trao đổi hàng hóa thấp là những vấn đề mà khu vực kinh tế tư nhân phải đối mặt hiện nay. Trong khi đó, tỉnh còn rất nhiều nguồn lực và tài nguyên chưa được sử dụng một cách hiệu quả.
Công tác quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Tây Ninh còn nhiều yếu kém, bất cập, vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cơ chế và tư duy quản lý cũ. Cụ thể công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách còn yếu kém chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân trong nhiều lĩnh vực, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; công tác tổ chức thực thi chính sách còn hạn chế; công tác kiểm tra, kiểm soát còn nhiều bất cập, Những hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã làm hạn chế sự phát triển các khu vực kinh tế của địa phương. Vì vậy, việc thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh hiện nay có một vai trò to lớn, mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội. Đây được xem là hướng đi cốt lõi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tây Ninh.
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về kinh tế tư nhân và phát triển KTTN. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào về phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Tây Ninh được thực hiện. Với mục đích xây dựng nền tảng khoa học cho phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình này diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, tác giả lựa chọn thực hiện đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Tây Ninh” để làm luận án tiến sĩ. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu chính của đề tài là hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển KTTN và QLNN đối với KTTN, phân tích thực trạng phát triển KTTN và QLNN đối với phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Tây Ninh theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở xác định mục tiêu nghiên cứu như trên, luận án có những nhiệm vụ nghiên cứu như sau: - Hệ thống hóa, tổng hợp các công trình nghiên cứu đã công bố về phát triển KTTN, từ đó phát hiện những khoảng trống nghiên cứu, qua đó gợi mở hướng nghiên cứu về phát triển KTTN trong đề tài này. - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về KTTN, phát triển KTTN, và quản lý nhà nước về KTTN cấp tỉnh. - Phân tích thực trạng phát triển kinh tế KTTN và QLNN về phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Tây Ninh thời gian qua; trên cơ sở đó, chỉ ra các thành tựu, hạn chế, và nguyên nhân.
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp phát triển KTTN tỉnh Tây Ninh trong thời gian tới. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước về kinh tế tư nhân.