CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DU LỊCH NỘI ĐỊA, PHÁT TRIỂN DU LỊCH NỘI ĐỊA, KINH DOANH DU LỊCH NỘI ĐỊA 1. Du lịch nội địa 1. Khái niệm du lịch nội địa Hiện nay, trong Luật Du lịch 2017 cũng như từ điển Tiếng việt chưa có một định nghĩa hay khái niệm cụ thể nào về du lịch nội địa.
Tuy nhiên, trên thực tế, có người hiểu du lịch nội địa là: chuyến đi của người du lịch từ chỗ này sang chỗ khác nhưng trong phạm vi đất nước mình chi phí bằng tiền nước mình và điểm xuất phát, điểm đến nằm trong lãnh thổ nước mình [7]. Xuất phát từ điều kiện kinh tế của người dân nên loại hình du lịch này thường phát triển ở các nước đang phát triển và kém phát triển. Khái niệm này thể hiện du lịch nội địa ở 2 khía cạnh: (i) về đối tượng là công dân trong nước, đi du lịch tại quốc gia của mình, (ii) về phạm vi: trong phạm vi lãnh thổ quốc gia của mình. Cũng có khái niệm cho rằng: Du lịch nội địa là các hoạt động tổ chức, phục vụ người bản địa, người nước ngoài cư trú tại nước mình đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Điểm đến và điểm đi trong phạm vi lãnh thổ quốc gia [6, tr. Ở khái niệm này, về phạm vi đi du lịch thì cũng tương tự như ở khái niệm nêu trên, tuy nhiên, đối tượng mà khái niệm này hướng đến có phần mở rộng hơn, theo đó, đối tượng của du lịch nội địa ngoài là người bản địa (là công dân trong nước, đi du lịch tại quốc gia của mình) còn có cả người nước ngoài cư trú tại nước mình. Như đã nói ở trên, mặc dù Luật Du lịch 2017 cũng như Từ điển Tiếng việt chưa có định nghĩa về du lịch nội địa, nhưng trong Luật Du lịch 2017 cũng đã có định nghĩa rất rõ ràng về Khách du lịch nội địa và đặc biệt, để thống kê du lịch nội địa hay du lịch quốc tế, nhà quản lý dựa chủ yếu vào số lượng khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Theo tác giả, khái niệm Khách du lịch nội địa và du lịch nội địa có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Theo đó, việc xác định du lịch nội địa và khách du lịch nội địa cũng dựa trên cơ sở hai yếu tố là (i) phạm vi và (ii) đối tượng. Tại Khoản 2 Điều 10 Luật Du lịch 2017 5 quy định: khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam [3, tr. Ngoài ra, theo hướng dẫn của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), khái niệm khách du lịch nội địa được diễn giải như sau: Khách du lịch nội địa (Domestic visitors) là khách du lịch thực hiện chuyến đi trong quốc gia mà họ cư trú. Chuyến đi được xác định từ nơi môi trường sống thường xuyên đến khi trở về nơi xuất phát [10].
Trên cơ sở những phân tích và dẫn chứng nêu trên, có thể thấy du lịch nội địa được hiểu là những hoạt động được tổ chức để phục vụ cho người dân bản địa và những người nước ngoài cư trú tại nước mình đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mình. Đặc trưng của du lịch nội địa Sản phẩm du lịch nội địa về cơ bản là vô hình, không phải là món hàng cụ thể như các ngành dịch vụ khác. Mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa. Tuy nhiên sản phẩm du lịch là không cụ thể nên dễ dàng bị sao chép, bắt chước (những chương trình du lịch, cách trang trí phòng đón tiếp…).
Bên cạnh đó, do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì vậy mà khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm. Do đó vấn đề quảng cáo trong du lịch là rất quan trọng. Ngoài ra, việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng. Do đó không thể đưa sản phẩm du lịch đến khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất ra sản phẩm du lịch.
Du lịch nội địa khác với du lịch quốc tế ở điểm du lịch nội địa tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân bằng việc tiêu thụ các sản phẩm quốc nội, là một phần tích cực tiêu thụ các sản phẩm lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội. Du lịch nội địa tác động tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân theo các vùng miền trong một quốc gia hay nói cách khác du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cấu trúc của thu nhập và chi tiêu của nhân 6 dân theo các vùng, làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển du lịch. Du lịch nội địa có vai trò trong việc thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế liên quan khác. Việc phát triển du lịch nội địa góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng như mạng lưới giao thông công cộng, hệ thống các khách sạn, nhà nghỉ, mạng lưới điện nước các vùng… Du lịch nội địa là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả về văn hoá – xã hội, giới thiệu các làng nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền của các địa phương, giới thiệu những nét đặc sắc trong phong tục tập quán và con người… ở tất cả các vùng miền của một quốc gia với thế giới.
Nhờ có du lịch nội địa mà những người dân trong nước, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có cơ hội được tìm hiểu, gia tăng hiểu biết chung về phong cách sống, thẩm mỹ, nét đẹp văn hóa… ở vùng miền khác. Điều này góp phần gia tăng tình đoàn kết, hữu nghị và mở rộng quan hệ giữa nhân dân các vùng miền với nhau. Các loại hình du lịch nội địa a. Căn cứ vào vị trí địa lí: căn cứ vào vị trí địa lý có thể phân loại du lịch nội địa như sau: - Du lịch thành thị: Đối tượng khách du lịch của loại hình này chủ yếu là những người sống ở nông thôn, những người sống ở thành phố cấp II, III, cả thị xã (đối với du lịch nội địa).
- Du lịch nông thôn: Khách du lịch chủ yếu là những người sống ở thành phố chủ yếu là tìm nơi nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, hoặc những muốn thưởng thức hương vị của đồng quê với những món ẩm thực ngon lạ. - Du lịch biển : Du lịch biển đang ngày càng phát triển, đặc biệt là ở nước ta. Hiện nay, du lịch biển đón một lượng lớn khách nội địa. - Du lịch miền núi: Việt Nam là một trong số ít quốc gia phát triển không chỉ du lịch biển mà du lịch miền núi cũng thu hút lượng lớn khách tham quan.
Một số điểm nghỉ dưỡng như Sa Pa, Đà Lạt, Ba Vì… đã phát triển loại hình du lịch này từ rất sớm. Ngoài ra, miền núi còn thích hợp với việc xây 7 dựng và phát triển các loại hình du lịch khác như du lịch cắm trại, du lịch mạo hiểm… b. Căn cứ vào phương tiện vận chuyển khách sử dụng: - Du lịch đường bộ: Du lịch đường bộ có thể sử dụng xe đạp hoặc xe ô tô. Nếu sử dụng xe đạp, du lịch có thể vừa kết hợp tham quan vừa phục vụ việc tập luyện thể thao, đồng thời có thể xâm nhập dễ dàng với cuộc sống dân bản xứ và đi tới những nơi đường sá chưa phát triển.
Loại hình này hiện nay còn chưa được phổ biến ở Việt Nam, chỉ có một số cơ sở làm dịch vụ cho khách là người nước ngoài thuê xe đạp, xe gắn máy đi du lịch (phố Phạm Ngũ Lão – Thành phố Hồ Chí Minh). Ngược lại, du lịch bằng xe ô tô, đặc biệt là đi theo đoàn thì loại hình này khá phổ biến hiện nay. - Du lịch đường hàng không: Với những ưu thế của du lịch bằng đường hành không: trang thiết bị tiên tiến, tiện nghi, sự phục vụ chu đáo của ngành hàng không; thời gian di chuyển nhanh chóng, khách hàng có thể tranh thủ thời gian ngắn di chuyển bằng đường hàng không đến những nơi có khoảng cách xa nên loại hình này ngày càng được lựa chọn nhiều. Tuy nhiên, do giá thành vận chuyển cao nên khách hàng có mức thu nhập thấp phải cân nhắc khi lựa chọn.
- Du lịch đường thủy: Hiện nay, nhiều hãng tàu có các loại tàu với chất lượng tương đương khách sạn 5 sao với nhiều loại dịch vụ phong phú như thể thao, bơi… có thể đáp ứng nhu cầu cao của du khách. Đối tượng khách là những người có thu nhập cao. Loại hình du lịch này là trọn gói, đặc biệt thích hợp với những chuyên du lịch dài ngày, ghé thăm nhiều nơi [9]. Căn cứ theo mục đích chuyến đi: - Du lịch tham quan: Việt Nam nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh xuất phát từ lịch sử và sự đa dạng, phong phú của yếu tố tự nhiên.
Danh lam thắng cảnh trải đều ở 63 tỉnh thành trong cả nước. Những điểm du lịch nổi tiếng được nhắc đến như Vịnh Hạ Long, động Phong Nha, hang Sơn Đoòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc… 8 - Du lịch giải trí: Hiện nay, Việt Nam chưa phát triển các khu vui chơi giải trí hiện đại như ở các nước nhưng những năm qua nước ta đã quan tâm đến loại hình du lịch này, thể hiện ở việc đầu tư các khu du lịch như Đầm Sen, Suối Tiên ở Thành Phố Hồ Chí Minh, Thiên Đường Bảo Sơn ở Hà Nội, Safari Nha Trang. thu hút khá đông khách du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt vào các dịp lễ, tết. - Du lịch nghỉ dưỡng: Ngày nay ở Việt Nam, các bộ ngành đang có xu hướng xây dựng các nhà nghỉ tại các bờ biển đẹp vừa kinh doanh, vừa tạo điều kiện cho cán bộ công nhân đi nghỉ vào dịp hè.
Do chịu ảnh hưởng của điều kiên thời tiết, khí hậu nên hiệu suất sử dụng không cao hay nói cách khác loại hình này chịu ảnh hưởng của tính mùa vụ. - Du lịch thể thao: Nhu cầu, sở thích của khách gắn với các môn thể thao. Loại hình này có hai loại khách chính đó là vận động viên trực tiếp tham gia thi tài ở các kì Thế Vận hội, Worldcup hoặc đến các vùng có tiềm năng thể thao như leo núi, trượt tuyết, săn bắn, bơi lội… (chủ động) và các cổ động viên xem các cuộc thi đấu và cổ vũ (bị động). Đây là loại hình du lịch đem lại nguồn thu lớn cho các địa phương.