CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG 1. Cơ sở lý luận về định giá công nghệ Với vai trò là thước đo sức cạnh tranh và khả năng phát triển của nền kinh tế nói chung, doanh nghiệp nói riêng trong tương lai, công nghệ trở thành một trong những dòng tài sản vô hình được trao đổi, thương mại hóa trên thị trường công nghệ. Yếu tố đầu vào cơ bản cho việc trao đổi, thương mại hóa này chính là việc biết được giá trị của công nghệ, kết quả của quá trình định giá công nghệ. Những gì thị trường cần là giá trị của công nghệ như là một sản phẩm được giao dịch trên thị trường, và điều này đòi hỏi một giá trị công bằng và khách quan mà không chịu ảnh hưởng bởi các công ty cụ thể sở hữu nó.
Công nghệ và giá trị công nghệ. Công nghệ là hệ thống các giải pháp được tạo nên bởi sự ứng dụng các kiến thức khoa học, được sử dụng để giải quyết một hoặc một số nhiệm vụ thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh, được thể hiện dưới dạng bí quyết kỹ thuật, phương án, quy trình công nghệ, tài liệu… và các dịch vụ hỗ trợ tư vấn. Công nghệ có giá trị như một tài sản vô hình với 2 thuộc tính cơ bản: “Giá trị sử dụng” và “giá trị trao đổi”. Giá trị sử dụng, hay công dụng của công nghệ chính là “sự khác biệt” do đặc tính sáng tạo, đổi mới tạo nên, sự khác biệt này cũng đồng thời quyết định thuộc tính tự nhiên của hàng hóa, dịch vụ, là cơ sở hình thành mối quan hệ mua bán liên quan tới tài sản công nghệ.
Số lượng giá trị sử dụng của tài sản trí tuệ được phát triển cùng với sự phát triển về trình độ khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, giá trị sử dụng của tài sản trí tuệ chỉ được thể hiện khi tài sản trí tuệ được khai thác, tiêu dùng một cách thực sự; nếu không, tài sản trí tuệ được coi như không có giá trị sử dụng. 12 Sự hình thành mối quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường ngày càng được quyết định bởi hàm lượng công nghệ kết tinh trong hàng hóa; hơn nữa, chính thành tố “công nghệ” cũng trở thành đối tượng trao đổI trực tiếp trên thì trường và có giá trị trao đổi. Trong bối cảnh đó, chúng tôi nhận định rằng giá trị của công nghệ đang dần trở thành một hình thức biểu hiện của giá trị hàng hóa, dịchvụ.
Khái niệm về định giá Thuật ngữ định giá đã được giải thích và sử dụng chính thức trong các văn bản pháp lý ở Việt Nam, cụ thể là: Luật Giá giải thích: “Định giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ”; Luật Kinh doanh bất động sản: “Định giá bất động sản là hoạt động tư vấn, xác định giá của một bất động sản cụ thể tại một thời điểm xác định”.Quan điểm này được nhìn nhận từ góc độ quản lý, điều tiết và định đoạt giá của Nhà nước. Theo Luật Giá thì, định giá được hiểu là việc ấn định các mức giá cụ thể cho từng loại tài sản làm căn cứ cho các hoạt động giao dịch mua, bán tài s ản, hàng hóa, d ịch vụ đó trên thị trường. Đối với các loại tài sản, hàng hóa, dịch vụ do nhà nước định giá (các cơ quan có thẩm quyền quy định) hoặc với tư cách là chủ sở hữu, thì các mức giá cụ thể của từng loại tài sản, hàng hóa mang tính bắt buộc mọi đối tượng tham gia hoạt động giao dịch, mua bán phải th ực hiện. Đối với các tài sản, hàng hóa, d ịch vụ không thuộc danh mục Nhà nước định giá thì do các tổ chức, cá nhân tự định giá theo quy luật thị trường làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch mua bán, trao đổi.
Theo đó, định giá được hiểu là việc xác định giá trị của tài sản tại một địa điểm, thời gian nhất định. Định giá thông qua các hình thức cụ thể, giá 13 chuẩn khung giá, giá giới hạn (giá tối thiểu, tối đa). Việc xác định giá trị tài sản là do các cá nhân hay pháp nhân là chủ sở hữu tài sản quyết định, nhằm bổ sung căn cứ cho các hoạt động giao dịch, mua bán tài sản đó trên thị trường. Khái niệm về định giá công nghệ Với vai trò là thước đo sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp, công nghệ đã và đang trở thành một dòng tài sản vô hình được trao đổi, thương mại hóa trên thị trường.
Để hiểu đầy đủ hơn việc định giá công nghệ, từ ý nghĩa kinh tế (theo lý thuyết kinh tế thị trường), đặc trưng cơ bản của giá trị được biểu hiện bới: Giá trị được đo bằng tiền tệ. Giá trị luôn có tính thời điểm, có thể có giới hạn địa lý và luôn thay đổi theo thời điểm (thời kỳ). Giá trị của một tài sản có thể khác nhau đối với các chủ sở hữu là cá nhân (hay chủ thể) khác nhau. Giá trị của một tài sản cao hay thấp về cơ bản phụ thuộc vào 2 yếu tố quyết định, đó là: (1) công dụng hữu ích (tính hữu ích) vốn có của tài sản, và (2) khả năng khai thác của chủ thể đối với các hữu ích của tài sản (khả năng mang lại lợi ích của tài sản cho người khai thác).
Đo lường tiêu chuẩn về giá trị của tài sản, hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập bằng tiền mà tài sản mang lại cho mỗi cá nhân có được trong từng bối cảnh giao dịch nhất định. Theo đó, giá trị công nghệ là những lợi ích tài chính mà công nghệ đó có thể tạo ra trong một hoàn cảnh cụ thể, có tính đầy đủ đến các rủi ro rằng việc đầu tư để phát triển tài sản có thể cao hơn giá trị thu được. Khái niệm này nói lên, khả năng tạo ra lợi ích tài chính trong tương lai, hoặc tiềm năng 14 thương mại của một công nghệ là yếu tố xác định giá trị của công nghệ đó. Khi tài sản công nghệ được trao đổi (mua – bán) trên thị trường thì nó trở thành hàng hóa, được phản ánh bởi giá trị trao đổi, và/hoặc được biểu hiện bằng giá cả của công nghệ dựa trên các hình thức li-xăng,và các khoản thu nhập khác từ li-xăng.
Giá của công nghệ (giá cả) được hình thành trong đàm phán giao dịch thương mại, nó phản ánh giá trị của công nghệ tương ứng tại một địa điểm, thời gian nhất định đó. Mức giá này, trong nhiều trường hợp có thể thấp hơn (lợi thể nghiêng về người tiếp nhận công nghệ) hoặc ngược lại cũng có thể cao hơn nhiều (lợi thế thuộc về người sở hữu/chuyển giao) so với giá trị nguyên gốc của nó (nguyên giá). Vì vậy, định giá công nghệ là việc xác định giá trị tạo ra lợi ích tài chính của công nghệ tại một địa điểm, thời gian và điều kiện nhất định; Đối tượng công nghệ được định giá là một phần hoặc toàn phần của một công nghệ, có đủ điều kiện để đạt/(hoặc đã) được bảo hộ sở hữu trí tuệ và duy trì các quyền sở hữu trí tuệ, thể hiện dưới dạng sau đây của tài sản vô hình: Sáng chế, giải pháp hữu ích; Nguyên tắc định giá công nghệ dựa trên cơ sở định giá tài sản vô hình. Chính vì vậy, việc định giá công nghệ nhằm xác định giá trị của công nghệ là rất quan trọng, vì đây là yếu tố đầu vào cơ bản cho quá trình trao đổi, thương mại hóa công nghệ.
Định giá công nghệ là một yếu tố quan trọng trong quá trình thương mại hóa và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ và tăng sức cạnh tranh; đồng thời là căn cứ, nền tảng để thực hiện quản lý tài sản nói chung và công nghệ nói riêng; là cơ sở cần thiết khi phải đưa ra các quyết định liên quan đến chuyển giao quyền sở hữu công nghệ (giúp người bán xác định giá bán có thể chấp nhận được và người mua quyết định giá mua, thiết lập cơ sở cho sự trao đổi công nghệ); tài chính và tín dụng (để biết giá trị công nghệ dùng làm tài sản bảo đảm, bảo hiểm công nghệ); cho thuê theo hợp đồng (đặt ra mức tiền thuê 15 và các điều khoản cho thuê). Việc xác định giá trị công nghệ nếu không sát với giá trị thực của công nghệ có thể dẫn đến các nghiệp vụ liên quan đến công nghệ không được thực hiện hoặc thực hiện không thành công. Đối với cơ quan quản lý, nếu không làm tốt công tác định giá công nghệ có thể sẽ tạo ra kẽ hở giúp các công ty đa quốc gia (MNCs) và xuyên quốc gia (TNCs) thực hiện hành vi chuyển giá, chuyển giao những công nghệ lạc hậu, cũ nát làm lãng phí tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường. Mục đích định giá công nghệ Thực tiễn ngày nay cho thấy tài sản công nghệ không chỉ là phương tiện, công cụ của hoạt động sản xuất, kinh doanh mà bản thân nó cũng là đối tượng của hoạt động mua bán, trao đổi, thậm chí còn là phương tiện để doanh nghiệp phô trương tiềm lực, vị thế, gây sức ép với đối thủ cạnh tranh do đó vấn đề xác định giá trị công nghệ đang ngày càng nên gắn bó hơn với hoạt động kinh doanh, trở thành nhu cầu thường xuyên trong việc đưa ra quyết định kinh doanh tới mức đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực xây dựng và thực hiện quản trị tài sản công nghệ nhằm củng cố và phát triển giá trị nguồn lực tài sản trí tuệ của mình trong tổng thể hoạt động quản trị kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra trong bối cảnh nền kinh tế chuyển dịch từ thâm dụng vốn và lao động sang thâm dụng tri thức, xu hướng gia tăng về hợp tác chiến lược, sát nhập M&A, và sự chuyển dịch của hệ thống tài chính từ bảo đảm, cầm cố sang tín dụng, thì việc định giá công nghệ nhằm thực hiện các mục đích cơ bản như sát nhập (M&A), đầu tư, trao đổi công nghệ, tham khảo trong kiện tụng, và ghi nhận kế toán và báo cáo thuế.