chương I đưa ra cơ sở lý luận về phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại, bao gồm các nội dung : Khái niệm cho vay KHDN; Đặc điểm và vai trò cho vay KHDN đối với doanh nghiệp, ngân hàng và nền kinh tế; Sự cần thiết phải phát triển hoạt động cho vay KHDN; Tổng quan bộ chỉ tiêu đánh giá và các nhân số ảnh hưởng đến phát triển cho vay KHDN.Khái quát về hoạt động cho vay KHDN của ngân hàng thương mại.1Khái niệm doanh nghiệp Theo điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ôn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Các doanh nghiệp sau khi được cấp giấy chứng nhận kinh doanh, nghĩa là nó đã là một pháp nhân, được thừa nhận về mặt pháp lý, và đi vào hoạt động. Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp với rất nhiều những nhu cầu về vốn, dịch vụ thanh toan.dé phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh của mình. Và giải pháp hiệu qua nhất là họ sẽ tìm tới ngân hang dé thỏa mãm những nhu cầu đó.
Như vậy : “ Khách hàng doanh nghiệp của NHTM là những Doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng cho mục đích kinh doanh của họ”. Hay nói cách khác doanh nghiệp chính là đối tượng phục vụ của ngân hàng. Các loại hình doanh nghiệp Theo luật Doanh nghiệp 2014, có các loại hình doanh nghiệp sau: - Doanh nghiệp nhà nước: Là tô chức kinh tê nhà nước sở hữu toàn bộ vôn điêu lệ hoặc có cô phân, vôn góp chi phôi, được tô chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cô phần, công ty trách nhiệm hữu hạn - Doanh nghiệp tư nhân: Là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân đứng lên xây dựng làm chủ chịu trách nhiệm với pháp luật về các hoạt động cũng như tài sản của doanh nghiệp - Hợp tác xã: Là một loại hình tổ chức tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, 4 pháp nhân có nhu cầu góp vốn xây dung góp sức lập ra theo điều 1 của bộ luật hợp tác xã năm 2003. - Công ty cô phần: Là loại hình doanh nghiệp Vốn điều lệ được chia thành nhiều phan băng nhau gọi là cô phan Theo điều 77 Luật doanh nghiệp.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là loại hình doanh nghiệp phổ biến hiện nay đây là loại hình doanh nghiệp có 2 thành viên trở lên và công ty TNHH 1 thành viên. -Công ty hợp danh: Là loại hình đặc trưng của công ty đối nhân trong đó có các cá nhân và thương nhân cùng hoạt động lĩnh vực thương mại dưới một hãng và cùng nhau chịu mọi trách nhiệm vê các khoản nợ của công ty. - Công ty liên doanh: Là loại hình doanh nghiệp công ty do hai hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài nhằm tiễn hành hoạt động kinh doanh các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Việt Nam. Đây là loại hình doanh nghiệp do các bên tô chức hợp thành 1.Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm về hoạt động cho vay của NHTM “Cho vay là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định. Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thé chuyên tới tài khoản của khách hàng hoặc người bán hàng cho khách hàng.” (Phan Thị Thu Hà, 2013, Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB. Đại học kinh tế quốc dân) Cho vay là nghiệp vụ cơ bản và lâu đời trong hệ thống ngân hàng thương mại. Ngân hàng huy động vốn từ các chủ thé trong nền kinh tế với lãi suất thấp và cho vay với lãi suất cao hơn.
Phần chênh lệch giữa lãi suất nhận tiền gửi và khoản thu từ lãi vay đã bù đắp rủi ro chính là thu nhập của ngân hàng. Ngày nay, thu nhập của ngân hàng có thé đến từ nhiều nguồn khác như tiền phí giao dịch, từ nghiệp vụ bảo lãnh bao thanh toán,. nhưng thu nhập từ cho vay vẫn là nguồn thu nhập chính, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản (khoảng 69%) và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng (70% đến 90%) (Nguyễn Văn Tiến, 2015, “Toàn tập quản trị ngân hàng thương mại”, NXB Lao Động). Từ nguồn thu nhập đó, ngân hàng có điều kiện để ngày càng gia tăng quy mô và hiện đại hóa công nghệ.
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng chiu không ít rủi ro hoạt động cho vay. Theo khoản 14, điều 4 Luật các tổ chức tin dụng 2010: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền dé sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tac có hoàn trả cả goc va lãi. Khái niệm hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, theo đó ngân hàng giao cho doanh nghiệp một khoản bằng tiền dé sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tac có hoàn trả cả gôc va lãi. Cho vay khách hàngdoanh nghiệp đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyên vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đên nơi hiệu quả cao đê đáp ứng nhu câu vôn cho kinh doanh của các doanh nghiệp.Đặc điểm cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Cho vay đối với doanh nghiệp là một trong những mục tiêu mở rộng tín dụng của các ngân hàng hiện nay.
Không chỉ ở các nước đang phát triển như ở nước ta mà ở các nước phát triên thì khách hàng doanh nghiệp cũng là một đối tượng khách hàng cần chú ý vì đây là một thị trường rất tiềm năng vì các doanh nghiệp ngày càng gia tăng trên khắp cả nước và nhu cầu vay của khối doanh nghiệp rất lớn. Cũng như các đối tượng cho vay khác thì cho vay khách hàng doanh nghiệp có đầy đủ các phương thức cho vay, tuy nhiên nó có phần nào chặt chẽ hơn về quy trình nghiệp vụ và giám sát. Có thé liệt kê một số đặc điểm cơ bản cho vay khách hàng doanh nghiệp như sau: Thứ nhất,cho vay khách hàng doanh nghiệp có chứa đựng nhiều rủi ro vì hoạt động của các doanh nghiệp chịu nhiều yếu tố tác động, đặc biệt là sự biến động của 6 kinh tế thị trường, đồng thời các hầu hết doanh nghiệp thiếu các tài sản thế chấp. Chính vì vậy nên các ngân hàng chưa thực sự mặn mà với đối tượng khách hàng này, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi mà xu hướng ngân hàng bán lẻ đang phát triển, rất nhiều ngân hang đã chuyển đổi mô hình từ ngân hàng bán buôn sang ngân hàng bán lẻ, theo đó, khách hang mũi nhọn của ngân hàng là khai thác khối khách hàng cá nhân, hộ gia đình và hộ kinh doanh, khi đó, các doanh nghiệp sẽ ít được ngân hàng tập trung khai thác hơn.
Thứ hai, số lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NH chiếm tỷ trọng thấp, nhưng dư nợ cho vay khách hàng doanh nghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tong dư nợ cho vay của NH.Trong nền kinh tế, số lượng doanh nghiệp thấp hon nhiều so với số lượng cá nhân. Do đó, số lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng cũng thấp hơn nhiều so với số lượng khách hàng cá nhân. Tuy nhiên, nếu như các món vay của khách hàng cá nhân thường có quy mô nhỏ thì món vay của doanh nghiệp lại khá lớn. Chính bởi vậy dư nợ cho vay khách hàng doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của ngân hàng.
Thứ ba,thông tin khách hàng có độ tin cậy hơn khách hàng cá nhân, hộ gia đình. Các doanh nghiệp cần phải công khai thông tin, đăng ký thông tin với Sở kế hoạch và đầu tư các địa phương, mặt khác lại chịu sự quản lý của cơ quan thuế. Các doanh nghiệp hằng năm đều phải tuân thủ các quy định về chế độ báo cáo, kiểm toán,. Do vậy thông tin mà doanh nghiệp đã được kiểm chứng qua cơ quan thuế, cơ quan kiêm toán nên có sự tin cậy hơn.
Thứ tư, đối tượng cho vay khách hàng doanh nghiệp của NH rất đa dạng vì DN hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng có thê tới từ các địa bàn khác nhau, quy mô kinh doanh khác nhau, ngành nghề kinh doanh khác nhau. Thứ năm, nhu cầu vay của doanh nghiệp thường rất lớn trong khi khả năng đáp ứng về tài sản bảo đảm nợ vay của DN có giới han. Thông thường dé bồ sung nhu cầu thiếu hụt vốn kinh doanh, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp khá nhiều.
Tuy nhiên, trong các loại tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ thì chỉ có một số loại tài sản nhất định có thể đảm bảo điều kiện cho vay. Thứ sáu, chi phí tổ chức cho vay khách hàng doanh nghiệp thường cao hơn cho vay cá nhân, hộ gia đình. Các khoản vay của doanh nghiệp thường lớn nên tiềm 7 an nhiều rủi ro hơn. Trong khi đó, vốn vay của doanh nghiệp được sử dụng cho mục đích kinh doanh nên nguồn trả nợ thường là dự tính không chắc chắn trong tương lai.
Chính vì vậy, khâu thâm định khách hàng, giải ngân cũng như theo dõi khoản vay thường phức tại và tốn kém chỉ phí hơn. Vai trò của cho vay khách hàng doanh nghiệp - Đối với Ngân hàng Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng và thúc đây các hoạt động khác của Ngân hàng. Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động lớn của Ngân hàng, doanh thu từ hoạt động này thường chiếm gần 80% doanh thu. Hoạt động cho vay mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng (bao gồm cả lợi ích kinh tế, lợi ích từ mối quan hệ, lợi ích về thương hiệu .), đồng thời tạo được sự phát triển bền vững cho ngân hàng.
Trong đó cho vay KHDN chiếm tỷ trọng rất lon , khoảng trên 70% dư nợ cho vay ( Ngan hang nha nước 2013).