Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Nguồn gốc của cây hoa cúc Cây hoa cúc (Chrysanthemum sp) được định nghĩa từ Chrysos (vàng) và Anthemum (hoa) bởi Line 1753, là một trong những loại cây trồng làm cảnh lâu đời và quan trọng nhất trên thế giới. Hoa cúc có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhật Bản, các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã chứng minh rằng từ đời Khổng Tử người ta đã dùng hoa cúc để mừng lễ thắng lợi và cây hoa cúc đã đi vào các tác phẩm hội họa, điêu khắc từ đó.
Ở Nhật Bản cúc là một loại hoa quý (quốc hoa) thường được dùng trong các buổi lễ quan trọng, người Nhật Bản coi cúc là người bạn tâm tình (Đặng Văn Đông và cs, 2003) [7]. Theo tài liệu cổ Trung Quốc thì hoa cúc có cách đây 3. Trong văn thơ Hán cổ, hoa cúc có 30-40 tên gọi khác nhau như: Nữ hoa, Cam hoa, Diên hoa… Hoa cúc có nguồn gốc từ một số loài hoang dại thuộc loại cúc Dendranthema, trải qua quá trình chọn lọc lai tạo và trồng trọt, từ những biến dị để có được những giống cúc như ngày nay (Đặng Văn Đông, 2005) [8]. Ở Việt Nam hoa cúc đã được du nhập từ thế kỷ XV, người Việt Nam coi cúc là biểu hiện của sự thanh cao, là một trong bốn loài thảo mộc được xếp vào hàng tứ quý “Tùng, Cúc, Trúc, Mai” hoặc “Mai, Lan, Trúc, Cúc”.
Hoa cúc không chỉ được ưa chuộng bởi mầu sắc, hình dáng mà còn đặc tính bền lâu hơn các loại hoa khác. Phân loại cây hoa cúc Hoa cúc là loại cây hai lá mầm (Dicotyledonace) thuộc phân lớp cúc (Asterydae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa cúc (Asteroideae), chi Chrysanthemum (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1988) [1]. n 5 Người Việt Nam yêu hoa cúc không chỉ do hình dáng mà còn do có cách sử dụng rất phong phú. Hoa cúc có màu sắc hoa đa dạng, lâu tàn và khả năng phân cành lớn nên cúc có thể dùng để cắm lọ hay bấm ngọn, tạo tán để trồng chậu, trang trí nhà cửa, trồng bồn, trồng chậu ở các khuôn viên, vườn hoa, dùng trong các ngày sinh nhật, hội nghị, lễ tết, hiếu hỉ.
Một số loại cúc như Kim cúc, Bạch cúc còn được sử dụng vào mục đích làm thuốc chữa đau đầu hay hoa mắt, chóng mặt (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1988) [1]; (Lê Kim Biên, 1984)[2]. Năm 1984, Lê Kim Biên (1984)[2] khi nghiên cứu phân loại họ cúc cho thấy riêng chi Chrysanthemum L ( Đại cúc) ở Việt Nam có 5 loài, trên thế giới có 200 loài, và có khoảng 1. Các giống cúc hiện trồng chủ yếu được sử dụng làm hoa hoặc cây cảnh, do đó hoa thường có kích thước từ trung bình đến to, nhiều màu sắc, như trắng, vàng, đỏ, tím, hồng. Một số loại cúc thuộc chi Chrysanthemum L được trồng phổ biến như: - Chrysanthemum cinerariaefolium (cúc Trừ Trùng): cây sống dai, có lông tơ, cao khoảng 50-70 cm.
Thân mọc thẳng đứng có cạnh lồi, lá mọc cách kiểu lông chim. Hoa được dùng để chế biến thuốc trừ sâu. - Chrysanthemum indicum (Cúc Vàng hay Kim Cúc): được trồng nhiều ở Châu Á, có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản. Cây dạng thân cỏ, sống lâu năm, cây có thể cao hơn 100 cm.
- Chrysanthemum morifolium (Cúc Trắng): có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng ở vùng núi Nam trung bộ và các tỉnh miền Bắc Việt Nam, được dùng làm thuốc hay cây cảnh. Thân dạng thân cỏ, sống lâu năm hay một năm. Trên thực tế thế giới có tới 7.000 giống cúc đã đưa vào sử dụng với sự đa dạng về chủng loại, màu sắc vô cùng phong phú (Anderson, 1987) [37]. - Chrysanthemum maximum (cúc Trắng Lớn): có nguồn gốc từ châu Âu được trồng rộng rãi trên thế giới với mục đích làm hoa cắt hoặc trồng ở bồn lớn.
Cây sống lâu năm, cao từ 70-100 cm. n 6 - Chrysanthemum coninarium (rau Cải Cúc, cúc Tần Ô): có nguồn gốc từ vùng Trung Cận Đông, cây sống hàng năm, thân mọc thẳng đứng, phân nhánh thành bụi, cây cao đến 120 cm. Năm 1993, Trần Hợp [12] đã phân loại cây hoa cúc thuộc nhóm cây thân cỏ có hoa làm cảnh và cũng đã đưa ra một số loài hoa cúc trồng ở Việt Nam như cây Tần Ô (rau Cúc C.coronarium Linn), cây Cúc Trắng (C.morifolium), cây Cúc Vàng (C. indicum) và cúc Trừ Trùng (C.
Như vậy, trong chi Chrysanthemum có rất nhiều loài và nhiều chủng giống khác nhau nhưng việc phân loại cúc vẫn chưa được thống nhất. Đặc điểm thực vật học của cây hoa cúc 1. Rễ Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) [15 ], rễ cây hoa cúc thuộc loại chùm, rễ cây ít ăn sâu mà phát triển theo chiều ngang. Khối lượng bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút, nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh.
Những rễ này mọc ở mấu của thân cây còn gọi là mắt, ở những phần sát trên mặt đất. Thân Theo Van Ruiten và cs (1984) [74] thì chiều cao cây, mức độ phân cành, độ mềm hoặc cứng phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống. Giống cúc cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống. Giống cúc thấp nhất chỉ cao 20-30 cm, còn giống cúc cao nhất, có thể cao trên 3m.
Các giống thấp, phân cành nhiều thích hợp trồng trong chậu, làm thảm hoa. Các giống thân dài, thường phân cành ít, thích hợp trồng trên nền đất hoặc trên nền giàn cao. Giống thân cao, ít cành thích hợp với việc trồng hoa cắt cành. Giống phân cành nhiều, cành nhỏ và mềm thích hợp với việc tạo hình trồng trong chậu cảnh.
Lá Theo Cockshull (1972)[43] thì lá cây hoa cúc mọc cách và thành vòng xoắn trên thân. Lá phẳng hoặc hơi nghiêng về phía trên hoặc hơi bị gấp. Trên một cành thì gần gốc nhỏ, càng lên phía trên lá càng to dần. Kích thước lá thường thay đổi theo điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt.
Cây sinh trưởng kém thì lá nhỏ, mỏng, cứng hơi chếch về phía trên, màu xanh nhạt n 7 không bóng hoặc hơi vàng. Đủ dinh dưỡng, cây sinh trưởng khoẻ, lá to và mềm, phiến lá dày, chóp lá hơi cong xuống, lá xanh thẫm và bóng. Lá hoa cúc thường sống được 70-90 ngày, hiệu suất quang hợp của lá mạnh nhất là ở lá thứ 4 tính từ đỉnh ngọn trở xuống. Hoa và quả Các tác giả Quách Trí Cương và Trương Vỹ (Dẫn theo Đặng Văn Đông, 2005)[8] khi nghiên cứu về hình dạng hoa cúc đã cho rằng cây họ cúc (Asteracea) rất đặc trưng bởi có cụm hoa đầu trạng.
Cụm hoa đầu trạng rất điển hình là trục chính của cụm hoa phát triển rộng ra thành hình đĩa phẳng hoặc lồi, trên đó có các hoa không cuống sắp xếp xít nhau, phía ngoài cụm hoa có các lá bắc xếp thành vòng, cả cụm hoa có dạng như một bông hoa. Hoa cúc có thể lưỡng tính hoặc đơn tính. Hoa có nhiều màu sắc và đường kính rất đa dạng, đường kính có thể từ 1,5-12 cm. Hình dạng của hoa có thể là đơn hoặc kép, thường mọc nhiều hoa trên một cành, phát sinh từ những nách lá.
Hoa cúc tuy là lưỡng tính nhưng thường không thể thụ phấn cùng hoa, nếu muốn lấy hạt giống thì phải tiến hành thụ phấn nhân tạo (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1988) [1]. Theo các tác giả Quách Trí Cương và Trương Vỹ (Dẫn theo Đặng Văn Đông, 2005)[8] thì quả cúc rất nhỏ, dài chừng 2-3mm, rộng 0,7-1,5mm, trọng lượng 1.000 hạt khoảng 1g, có nhiều hình dạng khác nhau như hình kim, hình gậy, hình trứng, hình tròn dài… thẳng hoặc hơi cong, hai đầu cùng bằng, hoặc một đầu nhọn, trên mặt có 5-8 vết dọc nông, màu nâu nhạt hoặc đậm, vỏ quả mỏng. Theo Lê Kim Biên (1984)[2] thì quả cúc dạng quả bế khô, hình trụ hơi dẹt, hạt có phôi thẳng và không có nội nhũ. Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa cúc 1.
Phản ứng quang chu kỳ của cây hoa cúc Khi nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng tới cây hoa cúc, các tác giả Yulian và Fujime (1995) [77] đưa ra kết luận cúc là cây ngày ngắn, ưa sáng và đêm ưa lạnh. Thời kỳ đầu cây non mới ra rễ, cây cần ít ánh sáng, trong quá trình sinh trưởng, ánh sáng quá mạnh sẽ làm cho cây chậm lớn và chất lượng n 8 hoa giảm. Quang chu kỳ ảnh hưởng đến quá trình ra hoa của cúc: khi thời gian chiếu sáng bằng hoặc ngắn hơn độ dài chiếu sáng tới hạn thì hình thành mầm hoa và nụ, khi thời gian chiếu sáng dài hơn độ dài chiếu sáng tới hạn thì không thể hình thành mầm hoa. Quang chu kỳ ảnh hưởng đến chất lượng hoa cúc: giai đoạn sinh trưởng cây cần ánh sáng ngày dài trên 13 giờ, thời kỳ phân hóa mầm hoa cây cần ánh sáng ngày ngắn từ 10-11 giờ/ngày-đêm thì chất lượng hoa cúc tốt nhất (Narumon, 1988)[63]; (Strojuy, 1985)[71].
Yêu cầu về nhiệt độ - Nhiệt độ: là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự sinh trưởng, phát triển, nở hoa và chất lượng hoa của cúc. Cây hoa cúc có nguồn gốc ôn đới nên ưa khí hậu mát mẻ, theo Myster (1995) [62], Langton (1997) [55], Narumon (1998) [63] thì nhiệt độ cho cây cúc sinh trưởng phát triển tốt là 15-200C. Cúc có thể chịu được nhiệt độ từ 10-350C, nhưng trên 350C và dưới 100C sẽ làm cúc sinh trưởng và phát triển kém (Yeun Joo Huh và cs, 2005)[75]. Các tác giả Hoogeweg (1999) [47], Anke van der Ploeg [35], [36] thì cho rằng nhiệt độ tối thích cho sự ra rễ của cúc là 160C-200C.
Nhiệt độ này phù hợp với điều kiện mùa Xuân và mùa Thu của miền Bắc Việt Nam, trong điều kiện thời tiết miền Bắc Việt Nam việc giâm cành cúc trong mùa Hè là hết sức khó khăn. Theo Strelitus và Zhuravie (1986) [70], thì tổng tích ôn của hoa cúc là 17000C và nhiệt độ thích hợp là 20-250C, nhiệt độ thấp<100C kìm hãm sự phát triển của hoa, nhiệt độ cao>300C ảnh hưởng xấu tới màu sắc hoa, độ bền hoa. Tác giả Okada (1999) [65], Anderson (2001)[38] cũng cho rằng: sự ra hoa của cây cúc ngoài ảnh hưởng của quang chu kỳ, còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ. Nụ đã được phân hoá nếu gặp nhiệt độ thấp, quá trình phát dục sẽ bị chậm nên hoa cũng nở muộn.
Thời gian nở hoa sớm hay muộn tuỳ thuộc vào chế độ nhiệt độ và đặc tính di truyền của giống.