CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài. Sơn đậu là loại cây dược liệu quý hiếm, phân bố hẹp, trữ lượng không đáng kể, lại thường bị chặt phá bừa bãi, nên số lượng cây Sơn đậu ngày càng khan hiếm. Sơn đậu là loài thực vật ưa sáng, chỉ phân bố trên đỉnh núi đá vôi và khó nhân giống vì: hạt nhanh mất sức nẩy mầm sau khi thu hoạch.
Song việc nghiên về ảnh hưởng của thời điểm gieo hạt, thời gian bảo quản hạt giống và ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng đến khả năng nẩy mầm của hạt giống, đến sinh trưởng của cây Sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm đến nay cũng chưa được đề cập và nghiên cứu. Sơn đậu là loại cây lâu năm. Trong quá trình sinh trưởng, phát triển bị nhiều loại sâu, bệnh xuất hiện và gây hại. Nhưng cho đến hiện nay, chưa có tác giả nào đền cập đến thành phần các loài sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ chúng trên cây Sơn đậu.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống cây Sơn đậu tại huyện Nguyên Bình tỉnh Cao bằng”. Nguồn gốc, phân bố, đặc điểm thực vật học và yêu cầu dinh dưỡng của cây Sơn đậu 1. Nguồn gốc của cây Sơn đậu Sơn đậu là cây có nguồn gốc ở nhiệt đới nóng ẩm, Sơn đậu mọc hoang dại đã được tìm thấy ở Nam Trung Hoa và các tỉnh miền Bắc nước ta cho đến tận Đà Nẵng. Sơn đậu là cây ưa sáng, chịu hạn nhưng không chịu được ngập úng, e 5 thường mọc ở núi đá vôi hay các sườn đồi khô cằn ở độ cao dưới 1000m.
Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới (nguyên sản là Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc). Phân bố của cây Sơn đậu Sơn đậu là loài cây dược liệu quý hiếm, mọc rải rác trên các sườn núi đá vôi thuộc vùng nhiệt đới nóng ẩm phía Nam Trung Quốc và phía Bắc Việt Nam. Cây Sơn đậu sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện nóng ấm của vùng nhiệt đới (nguyên sản của cây Sơn đậu – Sophora tonkinensis là phía Bắc Việt Nam và phía Nam Trung Quốc). Trước năm 1950, Sophora tonkinensis được phân bố ở 21 châu của tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc.
Sau đó, các nguồn tài nguyên Sophora tonkinensis hoang dã bị giảm nhanh chóng do người dân gia tăng việc khai thác sử dụng làm thuốc và xuất khẩu. Cho nên, trong những năm của thập niên 1980, Sophora tonkinensis hoang chỉ còn ở 10 châu và đến năm 2002 chỉ còn ở 4 châu thuộc tỉnh Quảng Tây – Trun Quốc. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho giá dược liệu Sơn đậu tăng nhanh: năm 2002, 1 kg Sơn đậu (Sophora tonkinensis) tươi có giá 4 – 5 nhân dân tệ (khoảng 0,63 USD/kg tươi); đến năm 2013, có giá là 80 nhân dân tệ (khoảng 12,6 USD/kg tươi). Trước thực tế đó, để đáp ứng nguồn nguyên liệu dược Sơn đậu trong nước và xuất khẩu, Chính Phủ Trung Quốc đã và đang có nhiều chính sách khuyến khích trồng cây Sơn đậu với quy mô lớn.
Nhưng vấn đề này hiện nay vẫn đang gặp khó khan do thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cây giống. Ở Việt Nam, cây Sơn đậu phân bố hẹp ở: Cao Bằng (Hạ Lạng, Trùng Khánh); Hà Giang (Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ); Quảng Ninh (các đảo thuộc Vịnh Hạ Long); Ninh Bình (Nho quan); Đà Nẵng (Sơn trà),. Trữ lượng cây Sơn đậu trong tự nhiên hiện còn không đáng kể do người dân khai thác tận e 6 diệt (lấy cả cây to, cây con, hạt, quả và rễ) để bán sang Trung Quốc. Chính vì vậy, loại cây dược liệu quý này có nguy cơ bị tuyệt chủng [10].
Đặc điểm thực vật: Sơn Đậu thuộc loại cây bụi, mọc thẳng đứng hoặc nằm sát mặt đất. Cao 1- 2m, thân hình trụ có lông mềm. Bộ rễ có từ 2-5 rễ nhỏ, hình trụ, màu vàng nâu, dài 30-40cm (có trường hợp đạt 80-100cm). Lá kép lông chim lẻ, mỗi lá kép có từ 9-15 lá chét mọc đối.
Lá chét dầy, thuôn hay hình bầu dục dài 3-4 cm, rộng 1-2 cm, mặt trên nhẵn và óng ánh, mặt dưới có lông. Cụm hoa mọc thành chùm ở nách lá, dài 12-15cm, hoa cánh bướm màu vàng trắng, đài hoa hình chuông bên ngoài có lông. Tràng hoa mầu vàng. Quả màu tím đen, thành chuỗi, dài 4 cm, có lông, tự mở, có chứa hạt hình trứng, đen bóng.
Thời kì hoa là tháng 5-7, thời kì quả là tháng 8-12. Yêu cầu dinh dưỡng của cây Sơn đậu Sơn đậu là cây thuốc nhiều năm (3-4 năm mới cho thu hoạch), bộ phận thu làm thuốc là bộ rễ. Do vậy nên chọn đất có tầng đất trồng dày, đất có kết cấu, thoát nước tốt, vùng trồng đủ ánh sang [14]. Phân bón lót cho 1 ha: Phân chuồng 10-12 tấn/ha.
Phân chuồng phải được ủ hoai mục, có thể sử dụng phân xanh bổ xung để làm tơi xốp đất. Rắc đều phân lên trên luống trước khi vun đất lên luống, dùng cuốc lên luống lấp kín phân. + Phân bón vô cơ: Năm thứ nhất dùng 80kg đạm urê/ha hòa nước tưới vào từng hốc cho giai đoạn cây trong vườn ươm. Từ năm thứ 2 trở đi thì mỗi năm bón 2 lần vào tháng 2-4 tháng 8-9, sử dụng phân tổng hợp bón vào gốc cây, mỗi lần bón khoảng 250kg NPK.
e 7 Năm đầu là thời kỳ cây con trong vườn ươm nên chỉ bón phân đạm (urê), mỗi gốc bón 5g. Từ năm thứ 2 trở đi trên ruộng sản xuất bón phân tổng hợp NPK, bón 2 lần/năm: + Lần 1 bón vào tháng 2-4 và bón sau khi đã làm sạch cỏ. + Lần 2 bón vào mùa thu (khoảng tháng 9), mỗi lần bón 25g/ hốc. Phòng trừ sâu bệnh hại trên cây Sơn đậu Hiện nay trên cây Sơn đậu đã phát hiện ra 2 loại bệnh do vi khuẩn gây ra: Bệnh thối rễ (Root rot) và bệnh Sclerotium rolfsii.
- Bệnh thối rễ nguyên nhân là do vi khuẩn xâm nhập vào bộ rễ gây ra thối, làm cho nước và chất dinh dưỡng không vận chuyển được từ đó dẫn đến bộ phận trên mặt đất bị héo và chết. Bệnh gây hại cả năm nhưng hại nghiêm trọng nhất là vào mùa hè và mùa thu. Thời kỳ đầu của bệnh có thể sử dụng thuốc Chlorothalonil pha loãng với nước 500 lần rồi tưới vào gốc. - Bệnh Sclerotium rolfsii gây hại cả thân và bộ rễ của cây, khiến cho tại vết bệnh của bộ phận bị hại chuyển sang màu nâu, sau đó sẽ bị thối.
Bệnh phát sinh trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm đều cao. Thời kỳ đầu của bệnh có thể sử dụng Carbendazim pha loãng với nước 800 lần rồi tưới vào gốc hoặc phun dưới dạng sương mù. - Sâu hại Sơn đậu căn có 4 loại chính: Sâu bore hại thân cành, sâu bore hại quả, nhện đỏ và côn trùng cánh cứng. + Sâu bore hại thân cành: Sâu non (ấu trùng) đục thân và cành tạo thành khoảng trống trong thân (làm thân rỗng).
Kết quả là làm bộ phận trên mặt đất bị khô và chết do quá trình vận chuyển nước và vật chất trong thân bị ngăn cản. Trên bề mặt nơi bị bệnh tấn công sẽ thấy có vệt kéo dài màu trắng. Phòng trừ bệnh này bằng cách là bắt ấu trùng tuổi nhỏ và trứng của chúng (thường tiến hành vào tháng 4-6) hoặc dùng thuốc Lorsban pha loãng nước 800 lần phun dưới dạng sương mù hoặc tưới trực tiếp. e 8 + Sâu bore hại quả: Sâu này hại vào thời kỳ hoa quả.
Cách phòng trừ tương tự như đối với sâu bore hại thân cành. + Nhện đỏ: Chúng gây hại gần như quanh năm, chúng tập chung chủ yếu ở phía sau mặt lá và gây hại bằng cách chích hút làm cho mặt trên của lá xuất hiện các đốm trắng (chuyển từ màu xanh lục sang màu trắng), gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình quang hợp của cây. + Côn trùng cánh cứng: Xuất hiện quanh năm, chúng tập chung gây hại vào các bộ phận còn non của cây như lá non…bằng cách chích hút, khiến cho lá non bị quăn lại (bị biến dạng). Công dụng và tình hình sản xuất thuốc từ cây Sơn đậu trên thế giới và Việt Nam 1.
Công dụng của cây Sơn đậu trên thế giới và các sản phẩm có thành phần Sơn đậu Theo kinh nghiệm truyền thống và y học cổ truyền Trung Quốc và Nhật Bản, rễ Sơn đậu được sử dụng để giảm sốt, giải độc, chữa viêm họng, viêm lợi, viêm loét dạ dày và nhuận tràng. Ở Thái Lan và Việt Nam, nước sắc lá dùng uống để làm cho dễ sinh đẻ. Ở Malaixia, người ta dùng hạt có vị đắng làm thuốc trị các bệnh về ngực và như là thuốc chống độc và bổ. Ở Inđônêxia, cây được dùng làm thuốc diệt côn trùng.
Ở Vân Nam (Trung Quốc), rễ được dùng trị viêm ruột, ỉa chảy, đầy bụng, đau dạ dày, đau hầu họng. Theo y học hiện đại, trong rễ Sơn đậu có nhiều các alkaloid như: matrine, oxymatrine, sophocapine,… có tác dụng chống ung thư và ức chế sự phát triển của khối u, điều trị các bệnh viêm gan siêu vi trùng, rối loạn nhịp tim, viêm da. e 9 Ở Trung Quốc, Sơn đậu là một trong những cây thuốc quan trọng đã được nghiên cứu rất kỹ về thành phần hóa học của rễ cây Sơn đậu bao gồm: flavonoid; polysaccharides, saponin và các alkaloid. Độc tính của alkaloid (matrine và oxymatrine) trong rễ Sơn đậu rất thấp và ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương rất nhẹ, cụ thể: LD50 đối với chó là 650 mg, với người là 40g/ngày.
Sơn đậu ít có tác dụng phụ. Khi sử dụng ở liều lượng quá nhiều, nó có thể làm phát sinh một số triệu chứng về tiêu hóa như: buồn nôn, nôn, táo bón, đôi khi, chóng mặt, rụng tóc, và phát ban. Các tác dụng phụ liên quan đến liều lượng: Khi liều sử dụng là dưới 30 gam mỗi ngày, không có phản ứng bất lợi xuất hiện. Liều dùng của các alkaloid của rễ cây Sơn đậu chiết xuất đối với người là 300 – 600 mg/ngày (tức ở mức 2% alkaloid, điều này tương ứng với 15 – 30g rễ/ngày).
Tuy nhiên trong điều trị chứng loạn nhịp tim liều dùng có thể cao hơn, 1.500 mg/lần và ngày dùng 3 lần. Đối với một số bệnh nhân bị bệnh hen suyễn, chỉ dùng 100mg/ngày và dùng 3 lần/ngày đã thấy xuất hiện hiện tượng chóng mặt, buồn nôn. Nhưng những triệu chứng này cũng nhanh chóng qua đi mà không cần phải giảm liều hay ngừng điều trị. Công dụng của cây Sơn đậu ở Việt Nam và các sản phẩm có thành phần Sơn đậu Bộ phận dùng và thành phần hóa học: Bộ phận dùng là rễ.