CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về khái niệm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp Colin Mason và Ross Brown (2014) với bài nghiên cứu “Entrepreneurial ecosystems and growth oriented entrepreneurship” đưa ra khái niệm chung nhất và mô hình của hệ sinh thái khởi nghiệp. Đồng thời, bài viết cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng và với hệ sinh thái khởi nghiệp nói chung.
Báo cáo “Entrepreneurial Ecosystems Around the Globe and Company Growth Dynamics” của Diễn đàn Kinh tế thế giới (2013) đã giới thiệu mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển một hệ sinh thái khởi nghiệp. Bên cạnh đó, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) còn nghiên cứu những tình huống cụ thể của từng doanh nghiệp để thấy được sự khác biệt của các hệ sinh thái khởi nghiệp trên phạm vi toàn cầu. Cuối cùng, báo cáo nhấn mạnh vai trò quan trọng của Chính phủ và các chính sách do Chính phủ đề ra trong quá trình phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. Tổng quan “Xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp: Vai trò của chính sách Chính phủ” do Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2015) biên soạn.
Bài tổng quan đã cung cấp một cách chi tiết các lý luận về định nghĩa, đặc điểm, thành phần và các yếu tố thúc đẩy sự hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn tập trung phân tích vai trò của chính sách Chính phủ trong việc xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của Singapore và Ấn Độ Báo cáo “International best practices on supporting startup ecosystems” của tổ chức Mekong Business Initiative (2016) đã đưa ra hệ thống cơ sở lý luận về hệ 6 sinh thái khởi nghiệp, các yếu tố tạo nên thành công của một hệ sinh thái khởi nghiệp. Đồng thời, báo cáo này còn nghiên cứu về ba hệ sinh thái khởi nghiệp thành công đến từ ba lục địa khác nhau là New York, Amsterdam và Singapore.
Từ kinh nghiệm của các hệ sinh thái khởi nghiệp thành công, tác giả rút ra bài học cụ thể cho Việt Nam và đưa ra những giải pháp để phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia. Tuy nhiên, hạn chế của bài nghiên cứu là số liệu chưa được cập nhật và chưa đánh giá thực trạng hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam. Báo cáo “The Evolution and State of Singapore’s Start-up Ecosystem: Lessons for Emerging Market Economies” của The World Bank Group (2021) đã ghi lại hiện trạng và sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp Singapore. Ngoài ra, bài báo cáo cũng xác định các đặc điểm chính, các yếu tố thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp Singapore, cũng như cung cấp cái nhìn sơ lược về các chính sách cụ thể mà đất nước này theo đuổi để có được thành công như hiện tại.
Nhóm tác giả Sarah Cheah, Yuen-Ping Ho và Philip Lim (2016) với bài nghiên cứu “Role of Public Science in Fostering the Innovation and Startup Ecosystem in Singapore”. Bài viết đã đưa ra cái nhìn tổng quan về hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới của Singapore, thảo luận về vai trò của khoa học công nghệ đối với các chiến lược phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của quốc gia. Hệ sinh thái khởi nghiệp của Singapore phát triển mạnh mẽ như hiện tại là do các chiến lược đúng đắn được đề ra trong quá trình hoạch định chính sách của quốc gia này. Tuy nhiên, bài viết hạn chế khi đưa ra quá nhiều định nghĩa học thuật khác nhau cùng một lúc, làm giảm đi tính truyền đạt.
Nitin Pangarkar và Paul Vandenberg (2022) trong bài báo cáo “Singapore’s Ecosystem for Technology startups and lessons for its neighbors” đã phân tích một cách chi tiết về hệ sinh thái khởi nghiệp của Singapore, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ nông nghiệp (agritech), công nghệ xanh (greentech), công nghệ giáo dục (edtech) và công nghệ sức khỏe (healthtech). Đồng thời, báo cáo cũng nghiên cứu các yếu tố chính đóng góp vào thành công của hệ sinh thái khởi nghiệp Singapore. Không chỉ nghiên cứu trường hợp Singapore, bài nghiên cứu còn 7 xem xét hệ sinh thái khởi nghiệp của ba quốc gia trong khu vực Đông Nam Á là Indonesia, Malaysia và Thái Lan để làm cơ sở đưa ra khuyến nghị phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của bốn quốc gia nghiên cứu. Bài viết “Hệ sinh thái khởi nghiệp và sáng tạo ở Singapore” của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia (2017) đã làm rõ được những thành công của hệ sinh thái khởi nghiệp Singapore trên nhiều phương diện bao gồm chính sách của Chính phủ, hỗ trợ về tài chính, văn hóa khởi nghiệp, sự hỗ trợ từ vườn ươm khởi nghiệp, nhân lực và thị trường trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, thông tin mà bài nghiên cứu cung cấp vẫn còn khá sơ sài và chưa cập nhật. Đồng thời, bài nghiên cứu chưa đề cập tới các trường đại học và hệ thống cố vấn hỗ trợ như yếu tố mang tính xúc tác trong quá trình phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của Singapore. Trên tạp chí International Journal of Policy Sciences and Law Volume 1, Issue 4, tác giả Nikki Arora (2021) với bài viết “Evolution of Start-Up Ecosystem in India” đã nêu lên quá trình hình thành và phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp tại Ấn Độ. Cũng giống như hệ sinh thái khởi nghiệp của các quốc gia trên thế giới, hệ sinh thái khởi nghiệp Ấn Độ trải qua quá trình phát triển dài và phải đối mặt với rất nhiều khó khăn.
Gần đây, đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy các công ty khởi nghiệp ở Ấn Độ phát triển, những con “kỳ lân” đang trỗi dậy hơn bao giờ hết và tạo cơ hội cho tất cả mọi người bất kể tuổi tác trong hành trình khởi nghiệp sáng tạo. Qua bài nghiên cứu “Startup Ecosystem in India: Growth and Challenges” trên tạp chí Apeejay Journal of Management & Technology, hai tác giả Arvind Dhingra và Varinder Jit Rai (2020) đã xem xét thực trạng phát triển của các công ty khởi nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp Ấn Độ. Từ thực trạng quá trình phát triển, các tác giả đã đưa ra nhận xét, đánh giá về những khó khăn Ấn Độ sẽ phải đối mặt trong hành trình phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia. Fakih Amrin Kamaluddin và Kala Seetharam Sridhar (2021) trong bài báo “Indian Startup Ecosystem: Analysing Investment Concentration and Performance of Government Programmes” đã đánh giá mức độ tập trung đầu tư vào các công ty khởi 8 nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp Ấn Độ.
Từ đó, các tác giả tiến hành đánh giá hiệu quả, lợi ích mà những chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, các chiến lược khuyến khích khởi nghiệp của Chính phủ đem lại cho hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia. Prabha Deena và Madhur Gupta (2021) với bài viết “A Study on Factors that contribute to the failure of startups”. Bài viết đã xác định các lý do dẫn đến sự thất bại của các công ty khởi nghiệp. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng đã so sánh các yếu tố ảnh hưởng đến hệ sinh thái khởi nghiệp của Israel và Ấn Độ, từ đó lý giải tại sao ban đầu Ấn Độ lại gặp phải thất bại trong việc phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp.
Bài viết hạn chế ở việc chỉ đưa ra các yếu tố khái quát dẫn đến thất bại của Ấn Độ trong thời gian đầu chứ không tập trung phân tích sâu vào vấn đề này. Bài nghiên cứu “A study on issues and challenges of startups in India” của G Suresh Babu và K Sridevi (2019) đã thành công trong việc phân tích những vấn đề và thách thức mà các công ty khởi nghiệp tại Ấn Độ sẽ phải đối mặt và các cơ hội cho hệ sinh thái khởi nghiệp của quốc gia này phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay. Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam Bài “Báo cáo Nghiên cứu cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Kinh nghiệm quốc tế - Đề xuất giải pháp cho Việt Nam” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2017) phát hành.
Bài nghiên cứu này đã đánh giá hiện trạng hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và hệ thống chính sách hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp tại Việt Nam. Không chỉ vậy, báo cáo này còn phân tích kinh nghiệm hỗ trợ khởi nghiệp của Chính phủ nước ngoài, từ đó đưa ra đề xuất mô hình hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo từ góc độ Nhà nước đối với các công ty khởi nghiệp. Bài viết “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư” của tác giả Bùi Nhật Quang (2017) đã nêu ra thực trạng và những chủ trương, chính sách của Chính phủ đối với hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam. Từ những phân tích về thực trạng, tác giả nêu lên các giải pháp 9 nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trong nước.
Mặc dù vậy, những giải pháp vẫn còn mang tính khái quát và khó có thể áp dụng trong thực tế. Nghiên cứu “Thực trạng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam: Khó khăn và giải pháp” của tác giả Dương Ngọc Hồng (2019) đã đưa ra cơ sở lý thuyết về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp bài học kinh nghiệm khởi nghiệp sáng tạo từ các quốc gia như Israel, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc và Brazil. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng phân tích thực trạng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam, chỉ ra những khó khăn, bất cập cũng như thách thức đối với hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam hiện nay. Từ những bài học kinh nghiệm và thực trạng phân tích, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, những giải pháp này khó có thể áp dụng với thực tiễn hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam hiện nay. Trong bài báo “Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp cho thanh niên: Thực trạng và các điều kiện”, tác giả Nguyễn Lê Đình Quý (2021) đã phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay, đồng thời còn chỉ ra các điều kiện để xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho thanh niên Việt Nam.