Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP 1. Khái niệm về hệ sinh thái khởi nghiệp 1. Khởi nghiệp Khởi nghiệp kinh doanh được hiểu là những nỗ lực thực hiện các quyết định mạo hiểm về kinh doanh hoặc thành lập một doanh nghiệp mới, có thể dưới hình thức tự thuê, tự doanh, làm việc một mình, hoặc mở rộng doanh nghiệp hiện tại bởi một cá nhân, nhóm cá nhân hoặc bởi một doanh nghiệp đã thành lập. Hiểu đúng khái niệm về khởi nghiệp kinh doanh là điều kiện tiên quyết để xác định đúng đối tượng và mục tiêu của các chương trình và chính sách khởi nghiệp.
Đây sẽ là tiền đề đảm bảo tính hiệu quả của các chính sách, chương trình hỗ trợ để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, đưa Việt Nam trở thành miền đất lành cho khởi nghiệp. Khởi nghiệp không chỉ là thiết lập các mô hình, ý tưởng sản xuất kinh doanh, đó có thể là khởi sự hành động trong các lĩnh vực khác nhau, hướng tới phục vụ cộng đồng, xã hội, giải quyết bài toán về con người và sự phát triển bền vững. (Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, 2016) Theo ông Trần Hiếu – người sáng lập ra nhóm khởi nghiệp Việt Nam trên mạng xã hội lớn nhất thế giới thì “Có tới 5 mô hình khởi nghiệp hiện nay trên thế giới. Đó là khởi nghiệp xuất phát từ sở thích, đam mê; Khởi nghiệp kinh doanh nhỏ hay doanh nghiệp hộ gia đình; Khởi nghiệp theo hướng chuyển nhượng, ‘nuôi để bán’; Khởi nghiệp theo hướng xã hội, phi lợi nhuận, phi thương mại và cuối cùng là Khởi nghiệp có khả năng tăng trưởng, tham vọng lớn (khởi nghiệp công nghệ).” Một vài năm vừa qua, cụm từ “khởi nghiệp” xuất hiện nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các diễn đàn chính sách hoặc các diễn đàn học thuật.
Hiện nay, mọi sự quan tâm khi nói về khởi nghiệp đều được hướng tới hoặc ngầm hướng tới các “startup” – những doanh nghiệp kỳ vọng vào sự tăng trưởng mạnh mẽ nhờ công nghệ hoặc những sáng tạo mang tính đột phá. Hiện nay, Chính phủ và các thành phần trong nền kinh tế đều quan tâm đến một thuật ngữ “khởi nghiệp sáng tạo”. Theo Blank và Dorf (2012), doanh nghiệp khởi nghiệp 23 Luan van sáng tạo “là tổ chức lâm thời tìm kiếm mô hình kinh doanh có khả năng tăng tốc phát triển, nhân rộng và mang lại lợi nhuận”. Bên cạnh khả năng tăng tốc (có tiềm năng tăng trưởng), các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cũng thường mang đặc điểm đổi mới sáng tạo (Sarkar, 2016) vì các doanh nghiệp này thường có xu hướng phát triển hoặc hướng tới tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới cho thị trường.
Tại Việt Nam, thuật ngữ “khởi nghiệp sáng tạo” lần đầu tiên xuất hiện trong Nghị quyết 35 của Chính phủ được thông qua ngày 16 tháng 5 năm 2016, tiếp đó được định nghĩa trong Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 (Đề án 844) được thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2016, và sau đó là trong Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ được thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2017. Hai văn bản này đều tập trung nhấn mạnh các đặc diểm tiềm năng cao và tính sáng tạo của doanh nghiệp và cùng định nghĩa: “doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được thành lập để triển khai một ý tưởng kinh doanh trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới và có tiềm năng mở rộng quy mô nhanh chóng”. Hiện nay, hai khái niệm “doanh nghiệp khởi nghiệp” và “doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo” tuy được sử dụng phổ biến, nhưng chưa được giải thích, quy định, hướng dẫn trong các văn bản pháp luật hiện hành dẫn đến nhận thức về khái niệm này chưa thống nhất. Trong khuôn khổ luận văn này, thuật ngữ “doanh nghiệp khởi nghiệp”, “startup” và “doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo” được sử dụng với hàm ý tương đương nhằm đề cập đến những doanh nghiệp non trẻ có tiềm năng tăng trưởng cao hoạt động dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới.
Hệ sinh thái khởi nghiệp Năm 2011, Tổ chức IPP (Innovation Partnership Program) – Phần Lan đặt chân vào Việt Nam mang theo nền tri thức khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với hàng loạt những khái niệm mới, triết lý mới về cách làm khởi nghiệp. Cũng từ đó, trong từ điển tiếng Việt du nhập thêm cụm từ “hệ sinh thái khởi nghiệp”. “Hệ sinh thái khởi nghiệp là thuật ngữ chỉ một tập hợp hay cộng đồng bao gồm các tổ chức và cá nhân cộng sinh, chia sẻ bổ sung cho nhau, tạo nên một môi trường phù hợp thuận lợi thúc đẩy sự hình thành nên các doanh nghiệp khởi nghiệp”. 24 Luan van Một hệ sinh thái khởi nghiệp là tập hợp tất cả các đối tượng xung quanh quá trình hình thành và phát triển một doanh nghiệp, từ các đối tượng trực tiếp đến gián tiếp thúc đẩy quá trình phát triển của doanh nghiệp cho đến khi doanh nghiệp đã trưởng thành.
Phạm vi của hệ sinh thái khởi nghiệp có thể thay đổi từ một vài tòa nhà cho đến cả một quốc gia. Ví dụ, Báo cáo Xếp hạng Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu, được coi là phân tích tổng hợp quốc tế toàn diện nhất, định nghĩa hệ sinh thái khởi nghiệp là “một khu vực đô thị hoặc khu vực địa lý (bán kính khoảng 100km) có sử dụng chung các nguồn lực”. Trong hệ sinh thái này Nhà nước đóng vai trò chủ chốt nhằm xây dựng các Chương trình Đề án định hướng hoạt động khởi nghiệp. Nhà đầu tư sẽ là nơi cung cấp vốn cho các ý tưởng kinh doanh khả thi.
Họ sẽ góp vốn vào các kế hoạch kinh doanh nếu thành công thì chia sẻ lợi nhuận, nếu thất bại thì chấp nhận rủi ro. Thông thường các nhà đầu tư là các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước, nhưng để các nhà đầu tư mạnh dạn rót vốn vào các dự án kinh doanh, Nhà nước nên đứng ra làm trước đề làm gương cho các tổ chức khác. Nếu Nhà nước không đứng ra đầu tư bảo lãnh sẽ gây tâm lí lo ngại cho các nhà đầu tư ngoài Nhà nước. Khi Nhà nước đứng ra bảo lãnh thành công, thì các nhà đầu tư khác sẽ mạnh dạn góp vốn vào dự án kinh doanh.
Một thành phần cũng rất quan trọng trong hệ sinh thái khởi nghiệp là nhà tư vấn. Các nhà tư vấn là các doanh nghiệp đã thành công, họ sẽ nhận được lợi nhuận nếu kinh doanh thành công, nhưng mục đích cao hơn là đóng góp vào sự phát triển kinh tế nước nhà. Nhà tư vấn là nơi đào tạo, huấn luyện và hỗ trợ các doanh nghiệp tương lai về bí quyết kinh doanh, quản trị và điều hành. Hơn nữa, các nhà tư vấn cũng đứng ra hỗ trợ các hoạt động tìm kiếm nhà đầu tư, tư vấn pháp lí, và các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ.
Theo chuyên trang công nghệ thông tin của FPT, một hệ sinh thái khởi nghiệp gồm có các cấu phần: - Các Startup; - Các định chế tài chính, quỹ đầu tư, nhà đầu tư tài trợ vốn cho Startup; - Các cơ chế chính sách, hành lang pháp lý của nhà nước để kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp; - Các cơ sở cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho Startup như vườn ươm, các chương trình tăng tốc khởi nghiệp hay các không gian làm việc chung; - Các sự kiện truyền thông về Startup. 25 Luan van Những chức năng cơ bản của hệ sinh thái khởi nghiệp thường được đề cập là chức năng khởi nghiệp (startup, cộng đồng khởi nghiệp), chức năng hỗ trợ (Chính phủ, vườn ươm khởi nghiệp, mạng lưới các nhà khởi nghiệp, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, các trường đại học, các chuyên gia cố vấn) và chức năng đầu tư (các quỹ đầu tư mạo hiểm, các công ty đầu tư mạo hiểm, các nguồn tài trợ dưới dạng cho vay hay trợ cấp, các tổ chức thúc đẩy kinh doanh. Nhìn chung, các hệ sinh thái khởi nghiệp được xác định bởi mạng lưới tương tác giữa con người, tổ chức và môi trường của họ. Cộng đồng khởi nghiệp là nơi những người kinh doanh có thể cùng chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm hay nguồn vốn, cùng hợp tác để có thể tạo ra những sản phẩm mới, có giá trị để cung cấp cho xã hội.
Các giai đoạn phát triển của một hệ sinh thái khởi nghiệp Một hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ phát triển liên tục qua các giai đoạn khác nhau. Theo tác giả của “Xếp hạng Hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu”, mô hình Chu trình Hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm các giai đoạn sau đây: - Giai đoạn mới nổi: Hệ sinh thái trong giai đoạn này thường tăng trưởng chậm và thường thiếu nhiều yếu tố quan trọng như vốn mạo hiểm, nhà cung cấp dịch vụ, các nhà đầu tư theo giai đoạn và các cố vấn cũng như các chính sách thân thiện cho khởi nghiệp. Theo mô hình này, cách tốt nhất để hỗ trợ hệ sinh thái thời kỳ này là “thúc đẩy một cộng đồng doanh nghiệp sôi động và nuôi dưỡng cộng đồng ấy với nhiều loại sự kiện khác nhau” nhằm xúc tác cho việc phối hợp trực tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng. - Giai đoạn kích hoạt: Hệ sinh thái trong giai đoạn phát triển này có nhiều yếu tố để thành công nhất.
Hệ sinh thái điển hình trong giai đoạn này áp dụng các quy trình “Bắt kịp tăng trưởng”, ví dụ như áp dụng các thông lệ tốt nhất từ các hệ sinh thái thành công khác. - Giai đoạn hội nhập: Các hệ sinh thái trong giai đoạn này thường tăng trưởng không tự nhiên vì chỉ tập trung vào thu hút các nguồn lực từ khu vực và từ nền kinh tế toàn cầu, thông qua các câu chuyện thành công và các lần thoái vốn lớn. Theo tác giả của các mô hình này, “thoái vốn là chỉ số đánh giá hoạt động quan trọng cần có cho một hệ sinh thái khởi nghiệp muốn thu hút các nhân tố và nguồn lực lớn để tăng trưởng trong giai đoạn hội nhập”. Hệ sinh thái 26 Luan van trong giai đoạn này thường cạnh tranh trực tiếp với các hệ sinh thái khác có cùng nguồn lực.
Điều này có nghĩa là tại hầu hết các nước có thể chỉ có dư địa cho chỉ một hoặc hai hệ sinh thái phát triển nhanh. Nếu một hệ sinh thái trở nên hấp dẫn ở quy mô quốc tế, thì thách thức chính sẽ là chuyển sang thu hút và hỗ trợ cho dòng nhân tài chảy vào (ví dụ như các chính sách về nhập cư và chính sách về nhà cửa).