Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Văn Định và cộng sự (2021) với nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nam Cần Thơ. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ kết quả khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi với 310 sinh viên năm ba và năm tư của trường.
Các tác giả đã dựa trên nền tảng lý thuyết hành vi kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) và các nghiên cứu đi trước dé xây dựng mô hình nghiên cứu. Thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nghiên cứu đã cho thấy có 05 nhân tố tac động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên theo mức độ giảm dan là: Đặc điểm tính cách, thái độ đối với hành vi khởi nghiệp, môi trường giáo dục, nhận thức kiểm soát hành vi và nguồn vốn. Bên cạnh đó, kết quả cũng đã chỉ ra chuẩn chủ quan không có tác động đến ý dịnh khởi nghiệp của sinh viên. Từ đó nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nam Cần Thơ trong thời gian tới.
Nguyễn Anh Tuấn (2020) đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động tới dự định khởi sự kinh doanh (KSKD) của thanh niên Việt Nam. Tác giả tiến hành thực hiện điều tra chính thức 1.500 thanh niên bao gồm hai nhóm đối tượng đó là sinh viên và thanh niên đã có việc làm, mẫu trong nghiên cứu này được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng, có chủ đích. Nghiên cứu đã tiến hành kiểm định một số biến mới trong bối cảnh mới là Việt Nam bao gồm: Yếu tố thuộc về bản thân, yếu tố liên quan đến giáo dục KSKD, yếu tổ thuộc về môi trường (hệ thống pháp luật, hỗ trợ từ chính phủ, truyền thống kinh doanh của gia đình) đến dự định KSKD trong môi trường văn hóa, kinh tế, xã hội có nhiều nét đặc trưng như Việt Nam. Đánh giá so sánh dự định khởi sự của thanh niên (độ tuổi từ 18-30) ở Việt Nam cũng như so sánh giữa thanh niên ở thành thị với thanh niên ở nông thôn hoặc giữa sinh viên với những người đã tốt nghiệp.
Đóng góp của nghiên cứu là đưa ra một khung cho phát triển khởi sự kinh doanh với đối tượng là thanh niên Việt Nam. Đoàn Thị Thu Trang (2018) nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp sinh viên khối ngành kỹ thuật. Nghiên cứu sử dụng 03 yêu tố (thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan) từ lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991), đồng thời bổ sung 01 yêu tố nhận thức cá nhân (cảm nhận về may mắn) trên cơ sở lý thuyết điểm kiểm soát tâm lý và thực tế tình hình khởi nghiệp ở Việt Nam dé phát triển mô hình nghiên cứu cho đề tài. Bên cạnh đó, 02 yếu tố môi trường gồm đặc trưng nhân khẩu học và chương trình dao tạo khởi nghiệp được đưa vào mô hình nghiên cứu dưới dạng nhóm biến điều khiển nhằm xem xét sự khác biệt về mức độ tác động của các yếu tố nhận thức cá nhân lên ý định khởi nghiệp của các nhóm sinh viên kỹ thuật khác nhau và so sánh mức độ sẵn sàng khởi nghiệp của các nhóm sinh viên.
Nguyễn Văn Đức (2018) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên tại huyện Vĩnh Thuận gồm: Năng lực khởi nghiệp, thái độ khởi nghiệp, đam mê khởi nghiệp, nguồn vốn, thị trường, hỗ trợ khởi nghiệp với mẫu nghiên cứu gồm 192 thanh niên trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Thực hiện kiểm định thang do bằng đánh giá Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám pha rút ra được 6 nhân tô độc lập theo giả thuyết ban đầu. Kết quả từ mô hình hồi quy cho thay có 4 nhân tô ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên gồm: Năng lực khởi nghiệp, đam mê khởi nghiệp, nguồn vốn và hỗ trợ khởi nghiệp, trong đó nhân tô năng lực khởi nghiệp có tác động mạnh nhất.
Nguyễn Quốc Nghỉ và cộng sự (2017) đã thực hiện nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành Quản trị kinh doanh tại các trường đại học/cao đăng trên địa bàn Thành phố Cần Thơ. Dữ liệu nghiên cứu thu thập từ 400 sinh viên ngành QTKD tai các trường đại học/cao dang trên địa bàn thành phố. Các phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tô khám khá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có 4 nhân té tác động đến ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD bao gồm: Thái độ và sự đam mê, sự sẵn sảng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan, giáo dục.
Trong đó, yếu tố thái độ và sự đam mê có tác động mạnh đến ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD. Các nghiên cứu ngoài nước Dựa trên nền tang lý thuyết hành vi kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991), lý thuyết khởi sự kinh doanh của Shapero và Soko (1982), kết hợp cùng nhiều nghiên cứu khác, Adewale và Fatima (2020) đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chương trình đảo tạo kinh doanh và định hướng văn hóa theo dự định của sinh viên để tham gia vào các hoạt động kinh doanh. Trong nghiên cứu, các yếu tố ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp của sinh viên được chia làm 2 nhóm bao gồm: Nhóm thứ nhất là các yếu tố dự báo thuộc về văn hóa (có 3 yêu tố là sự phù hợp nhận thức, hiệu quả nhận thức và tính nhất quán nhận thức), nhóm thứ hai là yêu tố đào tạo kinh doanh. Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc khảo sát 255 sinh viên nam cuối được chọn ngẫu nhiên của đại học Bayero Kano tại Nigeria.
Kết quả phân tích hồi quy đã chỉ ra rằng, 3 yếu tố sự phù hợp nhận thức, hiệu quả nhận thức và đào tạo kinh doanh có tác động tích cực đến dự định khởi nghiệp. Dựa trên những phát hiện này, nghiên cứu đã đề xuất các chính sách nhằm nâng cao sự phù hợp về nhận thức và hiệu quả nhận thức ngoài việc nâng cao chất lượng các cơ sở dao tạo kinh doanh tại trường học. Kumar (2019) đã nghiên cứu các yếu tố thúc đây phát triển tinh thần khởi nghiệp nông nghiệp, những hỗ trợ về thé chế và quảng bá cho các doanh nhân và xác định những hạn chế mà các doanh nhân phải đối mặt trong việc phát triển tinh thần kinh doanh nông nghiệp. Tác giả đã chỉ ra rằng mức độ tin cậy của phần lớn số người được khảo sát ở mức thấp, có thé là do sự không chắc chắn tiếp tục trong doanh nghiệp.
Thiếu sự hỗ trợ của Chính phủ trong việc khởi nghiệp, đào tạo đầy đủ về công nghệ của doanh nghiệp và thị trường thiếu sự đảm bảo cho đầu vào cũng như sản xuất luôn khiến các doanh nhân rơi vào tình trạng bối rối và không chắc chắn. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tổng số 71% người được khảo sát đã không nhận được bất kỳ hỗ trợ nào về thê chế liên quan đến khoản vay từ Ngân hàng Quốc gia. Những hạn chế lớn trên con khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp là ít hoặc không có trợ cấp, khó đảm bảo vốn lưu động, thiếu vốn vay, không đủ hỗ trợ tài chính của các tô chức tài chính. Abdul và Norhlilmatun (2018) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia khởi nghiệp nông nghiệp.
Nghiên cứu kết luận rằng quyết định có tham gia khởi nghiệp nông nghiệp không chỉ giới hạn ở thái độ, sự chấp nhận, kiến thức, sự đam mê mà còn được xác định bởi các yếu tố khác như hỗ trợ gia đình, hỗ trợ của chính phủ và cường độ thúc đây của các cơ quan chính phủ liên quan và liên quan cơ quan chức năng. Đặc biệt, sự hứng thú/đam mê trở thành doanh nhân nông nghiệp dựa trên thái độ và sự chấp nhận tự nguyện của họ. Khan và cộng sự (2018) nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của thanh niên ở Karachi (Pakistan). Đề tài dựa trên nền tảng lý thuyết hành vi dự định (TPB) của AJzen (1991) và các nghiên cứu đi trước dé xây dựng mô hình nghiên cứu.
Kết quả cho thấy, nhận thức kiểm soát hành vi là yếu tố quyết định quan trọng nhất ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp, tiếp theo đó là thái độ hướng đến hành vi kinh doanh, chuân chủ quan cùng với các yếu tô truyền thống về ý định khởi nghiệp, nhận thức về phương tiện truyền thông xã hội như một công cụ kinh doanh cũng được xem xét. Nghiên cứu này cũng cung cấp các khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách và những người cung cấp dịch vụ tư vấn và giáo dục khởi nghiệp ở Karachi về sự xem xét kỹ lưỡng các yêu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên. Ooi và Nasiru (2017) nghiên cứu anh hưởng của giáo dục về kinh doanh tới sinh viên đại học cộng đồng Malaysia. Mẫu nghiên cứu gồm 235 sinh viên năm cuối đã được rút ra từ bốn trường nằm ở khu vực phía bắc Malaysia.
Các tác giả đã thực hiện một nghiên cứu khám pha và đã xác định được có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý định KSDN của sinh viên bao gồm: Nhận thức kiểm soát hành vi, động cơ chọn làm công cho một tô chức, môi trường cho khởi nghiệp, động cơ tự làm chủ, quy chuẩn chủ quan, sự đam mê, và sự hỗ trợ của môi trường học thuật. Trong đó, yêu tố nhận thức kiểm soát hành vi có tác động mạnh nhất đến ý định khởi sự doanh nghiệp. Ngoài ra, trong nghiên cứu của Azhar (2017) đối với sinh viên kinh tế tại Pakistan, tác giả đã rút ra kết luận rằng ý định khởi nghiệp chịu tác động bởi các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, kinh nghiệm, nên tảng giáo dục và công việc của gia đình; các yếu tô hành vi như sự thu hút chuyên nghiệp, năng lực kinh doanh, đánh giá xã hội, kinh nghiệm, kiến thức kinh doanh, giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến khởi nghiệp. Wang và cộng sự (2017) đã áp dụng mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh của Shapero và Sokol (1982) với mục tiêu tập trung so sánh các yêu tố quyết định đến dự định khởi nghiệp của sinh viên các quốc gia khác nhau.