Chương I, Luật du lịch Lào năm 2021, ban hành ngày 24/7/2021: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc. Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp tổng hoà nhiều mối quan hệ và hiện tượng nảy sinh từ điều kiện và tác động qua lại giữa các đối tượng là khách du lịch, tài nguyên du lịch và ngành du lịch. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội.
Trên cơ sở tổng hợp tất cả các nhận định về lý luận, thực tiễn của các nhà nghiên cứu về du lịch, các hoạt động du lịch trên thế giới và ở Việt Nam, khái niệm du lịch do Khoa Du lịch và khách sạn – Trường Đại học Kinh tế quốc dân đưa ra được tôi chọn để có quan niệm đầy đủ cả góc độ kinh tế và góc độ xã hội về du lịch: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, ăn uống, lưu trú, tham quan, giải trí, tìm hiểu, và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đưa lại lợi ích kinh tế, chính trị xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”. Khách du lịch Nói đến khách du lịch, chúng ta có thể hiểu đó là những người đi từ nơi này đến nơi khác để nghỉ ngơi, giải trí, cũng có thể hiểu đó là người đi du lịch hoặc kết hợp du lịch, trừ trường hợp đi làm hay đi học… “ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc ngành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến ” - Định nghĩa khách du lịch quốc tế: Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO): " Khách du lịch quốc tế là một người lưu trú ít nhất một đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục địch khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến” + Khách du lịch quốc tế chủ động: là những người ở nước ngoài vào nước đó. + Khách du lịch quốc tế bị động: là những người ở trong nước đi ra nước ngoài.
- Định nghĩa khách du lịch nội địa. Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO): “Khách du lịch nội địa là người đang sống trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó, trong thời gian ít nhất là 24 giờ và không quá một năm với các mục đích có thể là giải trí, công vụ, hội họp, thăm gia đình ngoài hoạt động làm việc để lĩnh lương ở nơi đến”. Theo Điều 2 Luật Du lịch Lào năm 2005 thì chia làm hai loại như: + Khách du lịch quốc tế + Khách du lịch nội địa “ Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, là người Lào định cư ở nước ngoài vào nước Lào du lịch, công dân Lào, người nước ngoài và người không có quốc tịch mà thường trú tại nước Lào ra nước ngoài du lịch ” 8 “Khách du lịch nội địa là công dân Lào, người nước ngoài thường trú tại Lào đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ tại nước ” c. Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch tạo ra sức hấp dẫn du lịch.
Về thực tế, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên các đối tượng văn hoá, lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch. Những điều kiện hiện nay luôn tồn tại và gắn liền với môi trường xã hội đặc thù của mỗi địa phương, mỗi quốc gia nhằm tạo nên điểm đặc sắc cho mỗi địa phương, mỗi quốc gia đó. Khi các yếu tố này được phát hiện, được khai thác và sử dụng cho mục đích phát triển du lịch thì chúng sẽ trở thành tài nguyên du lịch. Như vậy có thể nói rằng, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề phát triển du lịch, trên thực tế cho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hậu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu.
- Mức độ khai thác của tài nguyên du lịch phụ thuộc vào: + Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá tiềm năng tài nguyên vốn còn tiềm ẩn. + Yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, các nhu cầu của khách ngày càng lớn, đa dạng và phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí. + Trình độ phát triển khoa học công nghệ đã tạo ra các phương tiện để khai thác tiềm năng mọi cách để đạt hiệu quả tốt nhất, nhằm đáp ứng mọi nhu cầu thoả mãn của khách du lịch khi có nhu cầu khám phá những điều kỳ diệu của tài nguyên du lịch. 9 Như vậy, giống như các tài nguyên khác, tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, vì những thay đổi cơ cấu và nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động du lịch những thành phần mang tính chất kinh tế cũng như tính văn hoá - lịch sử.
Nó là một phạm trù, vì khái niệm tài nguyên du lịch thay đổi tuỳ thuộc vào sự tiến bộ kỹ thuật, sự cần thiết về kinh tế, tính hợp lý và mức độ nghiên cứu, khi đánh giá tài nguyên và xác định định hướng khai thác chúng cần phải tính đến những thay đổi trong tương lai về nhu cầu cũng như khả năng kinh tế - kỹ thuật khai thác các tài nguyên du lịch mới. Bên cạnh những tài nguyên đã và đang được khai thác thì còn nhiều tài nguyên du lịch vẫn tồn tại dưới dạng tiềm năng đó. + Chưa được nghiên cứu, đánh giá và điều tra đầy đủ. + Chưa được khai thác do "cầu" còn quá thấp.
+ Tính tài nguyên thấp, chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết để khai thác và hình thành nên các sản phẩm du lịch. + Các điều kiện để tiếp cận các phương tiện khai thác còn hạn chế, do đó còn gặp nhiều khó khăn trong khai thác. Sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ, các hàng hóa cung cấp cho khách du lịch, được tạo nên bởi sự kết hợp việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch. Các đặc tính của sản phẩm du lịch là : 10 - Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể (vô hình). Thực ra nó là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể, mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa. Sản phẩm du lịch là không cụ thể, do đó không thể đặt ra vấn đề nhãn hiệu như hàng hóa và cũng vì vậy mà sản phẩm du lịch rất dễ bị bắt chước, cụ thể là người ta có thể dễ dàng sao chép những chương trình du lịch, bắt chước cách bài trí phòng đón tiếp hay qui trình phục vụ đã được nghiên cứu công phu.
Mặt khác, do tính chất không cụ thể nên khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua và vì vậy, rất nhiều người chưa từng đi du lịch sẽ phân vân khi chọn sản phẩm du lịch. - Tính không đồng nhất: Vì được tạo thành chủ yếu từ dịch vụ nên sản phẩm du lịch khó tiêu chuẩn hóa được, khó đưa ra một quy chuẩn nhất định. Cùng một sản phẩm dịch vụ nhưng chất lượng có thể không giống nhau khi: - Cung cấp bởi những nhân viên khác nhau - Cung cấp cho những khách hàng khác nhau - Cung cấp tại những thời gian, địa điểm khác nhau. Trong một số trường hợp, cùng một tiêu chuẩn dịch vụ, cùng một nhân viên nhưng phục vụ nhiều đối tượng khách hàng.
Mỗi khách hàng có một đánh giá, một cảm nhận khác nhau chất lượng sản phẩm, về thái độ phục vụ của nhân viên. Điều này cho thấy chất lượng sản phẩm du lịch cung cấp cho khách phụ thuộc vào tính cách, sở thích, trạng thái tâm lý. của mỗi khách hàng. Chất lượng sản phẩm du lịch cung cấp cho du khách cũng sẽ được cảm nhận khác nhau tùy vào từng thời điểm, không gian khác nhau.
- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng và sản xuất sản phẩm du lịch (dịch vụ) xảy ra trên cùng một không gian và thời gian. Vì sản phẩm du lịch gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch, mà như chúng ta biết muốn phát triển du lịch thì phải có tài nguyên du lịch và tài nguyên du lịch không thể di dời đi nơi khác (cố định về không gian), vì thế khách phải tìm 11 đến nếu muốn tiêu dùng sản phẩm du lịch. Đồng thời, sản phẩm du lịch đa phần là dịch vụ, mà đã là dịch vụ thì chỉ khi nào khách tiêu dùng thì lúc đó cơ sở kinh doanh mới cung cấp, hay nói cách khác lúc đó dịch vụ mới được sản xuất. Với đặc điểm này thì khách du lịch không thể kiểm tra được chất lượng sản phẩm trước khi mua và muốn tiêu dùng thì phải đến nơi sản xuất.