Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Khai thác tiềm năng tự nhiên để phát triển du lịch tỉnh Phú Yên" do sinh viên Đặng Thị Bảo Trân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phan Văn Phú (Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022) thuộc chuyên ngành Địa lí học.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Trong bối cảnh nhu cầu du lịch tham quan, nghỉ dưỡng biển ngày càng gia tăng, Việt Nam có nhiều ưu thế tự nhiên thuận lợi để thu hút du khách nội địa và quốc tế. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ du lịch nhìn chung vẫn chưa đạt hiệu quả tối ưu và thiếu tính đồng bộ.
Tỉnh Phú Yên sở hữu vị trí địa lý thuận lợi thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, với đường bờ biển dài 189 km có địa hình khúc khuỷu, núi biển liền kề tạo nên nhiều vịnh, đầm, mũi, gành hoang sơ (đầm Cù Mông 2.655 ha, đầm Ô Loan 1.570 ha, vịnh Vũng Rô 1.640 ha, vịnh Xuân Đài, Gành Đá Đĩa, cùng các nguồn nước khoáng Phú Sen, Triêm Đức, Lạc Sanh, Trà Ô). Mặc dù tiềm năng tự nhiên phong phú, hoạt động du lịch của tỉnh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chủ yếu tập trung vào nghỉ dưỡng biển truyền thống, thiếu nét đặc trưng riêng và dễ trùng lặp với các địa phương lân cận như Bình Định, Khánh Hòa. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới giao thông kết nối đến các điểm du lịch trọng điểm còn thiếu hoàn thiện. Đề tài được lựa chọn nhằm phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác hợp lý các tiềm năng tự nhiên cho sự phát triển du lịch địa phương.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là làm rõ tiềm năng về tài nguyên du lịch tự nhiên của tỉnh Phú Yên, từ đó định hướng phát triển du lịch của tỉnh theo hướng bền vững.
Các mục tiêu cụ thể (nhiệm vụ nghiên cứu) gồm:
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về việc khai thác tiềm năng tự nhiên để phát triển du lịch.
- Tìm hiểu tiềm năng tự nhiên và hiện trạng hoạt động du lịch tại tỉnh Phú Yên; phân tích những thành tựu đạt được cũng như các tồn tại, hạn chế trong quá trình phát triển.
- Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch tỉnh Phú Yên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các dạng tài nguyên du lịch tự nhiên trên địa bàn tỉnh Phú Yên, bao gồm: địa chất – địa mạo, tài nguyên khí hậu, tài nguyên biển, tài nguyên nước (sông, hồ, thác, nước khoáng) và tài nguyên sinh vật.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ tỉnh Phú Yên với 9 đơn vị hành chính cấp huyện (thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu, thị xã Đông Hòa và 6 huyện: Đồng Xuân, Sông Hinh, Sơn Hòa, Phú Hòa, Tây Hòa, Tuy An) cùng mối liên kết không gian với các tỉnh lân cận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích các nguồn dữ liệu thống kê, tài liệu thứ cấp trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết, khái niệm và căn cứ pháp lý
Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực từ các tổ chức quốc tế và văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam:
- Khái niệm du lịch: Tiếp cận theo định nghĩa của Tổ chức Quốc tế các Cơ quan Du lịch Chính thức (IUOTO).
- Sản phẩm du lịch: Dựa trên định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) với 3 nhóm cấu thành: hệ thống dịch vụ, quản lý điều hành; tài nguyên du lịch; hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật.
- Tài nguyên du lịch và Tài nguyên du lịch tự nhiên: Trích dẫn chuẩn xác theo Khoản 4 Điều 3 và Khoản 1 Điều 15 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017.
- Du lịch bền vững: Tiếp cận định nghĩa của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Quốc tế (WTTC, 1996).
- Phân loại tài nguyên du lịch: Khóa luận viện dẫn hệ thống phân loại của UNWTO (1997) gồm 3 loại và 9 nhóm; phân loại của tác giả Ngô Tất Hổ (3 hệ thống, 10 loại, 95 hình); và khung phân loại các nhóm tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình – địa chất – địa mạo, khí hậu, nước, sinh vật) theo giáo trình Tài nguyên du lịch của Bùi Thị Hải Yến (NXB Giáo dục).
- Mối quan hệ tương tác: Tác giả phân tích tính hai mặt (tích cực và tiêu cực) trong tác động qua lại giữa hoạt động du lịch với tài nguyên tự nhiên (đất, nước, không khí, sinh vật) và kinh tế - xã hội.
- Thực tiễn tham chiếu: Đề tài phân tích bài học kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn tại 79 vườn quốc gia ở Thái Lan (kết hợp trekking miền Bắc và lặn biển miền Nam), cùng thực trạng khai thác tài nguyên tự nhiên trên phạm vi cả nước Việt Nam (địa hình karst 60.000 km², đường bờ biển 3.260 km, hơn 3.000 hòn đảo, hơn 400 nguồn nước khoáng, 105 khu bảo tồn thiên nhiên với độ che phủ rừng 42% năm 2020).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu, báo cáo chuyên ngành về du lịch Phú Yên trong giai đoạn 2005–2020 để xử lý, chọn lọc tư liệu.
- Phương pháp bản đồ: Nghiên cứu và phân tích bản đồ hành chính, bản đồ du lịch tỉnh Phú Yên nhằm xác định đặc điểm phân bố không gian, địa hình và vị trí các điểm tài nguyên du lịch.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu: Khai thác số liệu từ các văn bản nghị quyết phát triển du lịch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Yên, niên giám thống kê kết hợp tài liệu nghiên cứu của các học giả (Nguyễn Thành Quan, Nguyễn Đình Chúc, Trần Huyền Ân) để tổng hợp luận điểm.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp khảo sát thực tế hiện trạng tại các khu, điểm du lịch và cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến từ các nhà nghiên cứu địa lí tự nhiên, chuyên gia du lịch, cán bộ quản lý địa phương và các chủ doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch tại Phú Yên.
Nguồn dữ liệu
Dữ liệu sử dụng trong khóa luận là dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Phú Yên, báo cáo tổng kết ngành Du lịch thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (giai đoạn 1996–2020), các đề án quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên đến năm 2020, cùng hệ thống tài liệu khảo sát thực địa của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về khai thác tiềm năng tự nhiên để phát triển du lịch
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch bền vững. Tác giả chỉ rõ tài nguyên du lịch tự nhiên là thành phần nền tảng, quyết định tính đặc thù và định hình các loại hình du lịch (nghỉ dưỡng biển, sinh thái, mạo hiểm, chữa bệnh). Hoạt động du lịch mang lại tác động tích cực trong việc nâng cao nhận thức bảo tồn, gia tăng giá trị kinh tế và giải quyết việc làm; song nếu không kiểm soát tốt sẽ gây ô nhiễm nước biển, suy thoái hệ sinh thái san hô, thu hẹp sinh cảnh của hệ động thực vật và làm biến đổi văn hóa bản địa.
Đánh giá thực trạng chung của Việt Nam, chương 1 khẳng định tài nguyên tự nhiên nước ta rất phong phú nhưng sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, việc điều tra, xếp hạng tài nguyên chưa đầy đủ dẫn đến tình trạng khai thác quá mức, cạnh tranh thiếu lành mạnh và dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu cũng như ô nhiễm môi trường cục bộ.
CHƯƠNG 2: Tiềm năng tự nhiên du lịch tỉnh Phú Yên
Chương 2 cung cấp bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá chi tiết 5 nhóm tiềm năng tài nguyên tự nhiên của tỉnh:
-
Địa chất – địa mạo:
- Gành Đá Đĩa (xã An Ninh Đông, huyện Tuy An): Diện tích khoảng 2 km² (rộng 50 m, dài 200 m), cấu trúc đá bazan núi lửa hình thành cách đây 200 triệu năm từ cao nguyên Vân Hòa, xếp hạng thắng cảnh quốc gia năm 1997, thuộc top 5 gành đá đĩa đẹp nhất thế giới.
- Núi Đá Bia / Thạch Bi Sơn (xã Hòa Xuân Nam, thị xã Đông Hòa): Cao 706 m với khối đá đỉnh cao 76 m gắn liền sự kiện vua Lê Thánh Tông tiến quân năm 1471; xếp hạng danh thắng quốc gia năm 2008.
- Núi Chóp Chài / Quy Sơn (thành phố Tuy Hòa): Cao 394 m, có hang Dơi và hệ thống chùa cổ (Hòa Sơn, Minh Sơn, Khánh Sơn, Bảo Lâm).
- Núi Nhạn (thành phố Tuy Hòa): Thắng cảnh bên sông Đà Rằng mang dấu ấn kiến trúc văn hóa Champa.
- Phú Yên có tiềm năng lớn xây dựng công viên địa chất trải dài từ thị xã Sông Cầu đến Mũi Điện (Đông Hòa) và các xã An Định, An Nghiệp, An Lĩnh (Tuy An).
-
Khí hậu:
- Thuộc đới nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 26°C – 26,5°C, độ ẩm >80%, lượng mưa 1.500 – 3.000 mm/năm.
- Mùa nắng kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8 thuận lợi cho du lịch biển; mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 thường kèm bão lũ gây trở ngại cho hoạt động ngoài trời.
-
Biển đảo:
- Sở hữu đường bờ biển 189 km với hàng loạt bãi biển và vũng vịnh tiêu biểu: Bãi Bàng – Bãi Gốc (dài >3 km), bãi Long Thủy (bãi Mỹ Á, có gió nồm thổi quanh năm), bãi Từ Nham (dài 8 km, rộng 100–200 m, địa hình đồi cát bồi tụ nối liền đảo), vịnh Vũng Rô (diện tích >16 km²), vịnh Xuân Đài (diện tích mặt nước 130,45 km², di tích quốc gia năm 2011), đầm Ô Loan (diện tích 1.570 ha gắn liền truyền thuyết chim Ô Thước và nàng tiên Loan).
- Các bãi tắm khác: bãi Bàu, bãi Rạng, Xuân Hải, bãi Nồm, bãi Tràm, bãi Ôm, bãi Bình Sa, An Hải, Phú Thường, bãi Súng, bãi Xép.
-
Sông, hồ, thác, nước khoáng:
- Hệ thống sông Ba (Đà Rằng): Dài 388 km, diện tích lưu vực 13.900 km², bắt nguồn từ núi Ngọc Rô (Kon Tum, 1.549 m), cung cấp nước cho vựa lúa đồng bằng Tuy Hòa rộng hơn 20.000 ha; cầu Đà Rằng vượt sông dài 1.512 m.
- Vực Phun (xã Hòa Mỹ Tây, huyện Tây Hòa, cao 50 m) và Hồ thủy điện Sông Hinh (xã Ea Trol, diện tích lòng hồ 41 km² với các loài cá đặc sản như cá lăng, cá mã, cá thác lác, cá sảnh).
- Nguồn nước khoáng nóng: Suối khoáng Phú Sen (nhiệt độ >70°C, có bùn khoáng), suối khoáng Triêm Đức / Vực Lò (nhiệt độ 70°C bên bờ sông Kỳ Lộ), cùng các nguồn Lạc Sanh, Trà Ô, Mỹ Thành (50°C – 70°C) rất phù hợp cho du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh.
-
Sinh vật:
- Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai (huyện Sơn Hòa): Diện tích tự nhiên trên 22.000 ha (rừng tự nhiên hơn 12.000 ha), là hệ sinh thái chuyển tiếp Tây – Đông Trường Sơn, gắn liền văn hóa các dân tộc Chăm, Ba Na, Ê Đê (lễ bỏ mả, lễ hội đâm trâu, mừng sức khỏe).
- Khu du lịch sinh thái Sơn Nguyên (huyện Sơn Hòa) với thác Hòa Nguyên cao trên 30 m.
Chương này cũng chỉ ra các thành tựu về tăng trưởng du khách (giai đoạn 2016–2020 đón khoảng 8,1 triệu lượt khách; tổ chức Năm Du lịch quốc gia 2011, Festival Thủy sản 2014, Hoa hậu hữu nghị ASEAN 2017; hiệu ứng quảng bá từ phim "Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh" năm 2015). Đồng thời, tác giả chỉ ra các hạn chế lớn: tài nguyên phân bố phân tán xa nhau (Gò Thì Thùng cách Tuy Hòa 45 km, Gành Đá Đĩa cách Mũi Điện 60 km), hạ tầng kết nối khó khăn (Vực Phun, Bãi Môn), thiếu sản phẩm bổ trợ khiến du khách chỉ xem Phú Yên là điểm dừng chân tạm thời, cơ sở lưu trú 4–5 sao rất ít, chất lượng nhân lực tại 4 cơ sở đào tạo trong tỉnh (CĐ Nghề Phú Yên, CĐ Công Thương miền Trung, ĐH Phú Yên, ĐH Xây dựng miền Trung) nặng lý thuyết và yếu kỹ năng thực hành, ngoại ngữ.
CHƯƠNG 3: Định hướng phát triển du lịch của tỉnh Phú Yên
Chương 3 trình bày các quan điểm, định hướng và nhóm giải pháp dựa trên Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn 2030 và các nghị quyết của Tỉnh ủy:
- Xác định mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2030, là mắt xích kết nối giữa Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể gồm:
- Phát triển thị trường và sản phẩm du lịch: Lấy du lịch biển đảo làm mũi nhọn kết hợp sinh thái, văn hóa đá, MICE, ẩm thực xứ Nẫu.
- Tổ chức không gian du lịch: Hình thành các tuyến điểm liên kết đồng bộ giữa khu vực ven biển với vùng đồi núi phía Tây và các tỉnh lân cận.
- Đầu tư phát triển du lịch: Nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông kết nối điểm đến, thu hút đầu tư lưu trú cao cấp.
- Các giải pháp thực hiện quy hoạch: Hoàn thiện cơ chế chính sách đất đai, giải phóng mặt bằng, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường quản lý môi trường du lịch bền vững.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính và tổng hợp số liệu
Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ số liệu thực tế về quy mô dân cư, kinh tế và sự tăng trưởng của ngành du lịch tỉnh Phú Yên qua các giai đoạn lịch sử:
| Tiêu chí / Năm | Năm 1996 | Năm 2000 | Năm 2014 | Năm 2015 | Giai đoạn 2016–2020 (hoặc ước 2020) |
|---|---|---|---|---|---|
| Lượt khách nội địa (lượt) | 829 | 35.938 | 678.040 | 854.000 | — |
| Lượt khách quốc tế (lượt) | 1.531 | 1.073 | 77.160 | 45.000 | — |
| Tổng lượt khách (lượt) | 2.360 | 37.011 | 755.200 | 900.000 | 8.100.000 (đạt 116,3% chỉ tiêu) |
| Tốc độ tăng trưởng khách bình quân | — | 7,55%/năm | — | — | 11,2%/năm |
| Thời gian lưu trú bình quân | — | — | — | — | 1,5 – 2 ngày/khách |
| Doanh thu du lịch (tỷ đồng) | 5,821 | 6,882 | 675 | 850 | 2.242 (năm 2019 đạt 1.940 tỷ) |
| Cơ sở lưu trú du lịch (cơ sở) | — | — | — | — | 350 (đạt 140% chỉ tiêu) |
| Lao động ngành du lịch (người) | — | — | — | — | 6.220 (đạt 77,7% chỉ tiêu) |
| Dự án đầu tư du lịch thu hút | — | — | — | — | Gần 50 dự án |
Về cơ cấu doanh thu ngành du lịch tỉnh Phú Yên: Doanh thu từ dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng cao nhất với 45%, tiếp đến là doanh thu lưu trú chiếm 34%, trong khi doanh thu từ dịch vụ lữ hành và các dịch vụ bổ trợ khác chiếm tỷ trọng không đáng kể.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Phát triển sản phẩm đặc thù: Tập trung vào các dòng sản phẩm nghỉ dưỡng biển đảo, khám phá cảnh quan địa chất bazan (văn hóa đá), du lịch nghỉ dưỡng – chữa bệnh từ suối khoáng nóng (Phú Sen, Triêm Đức), du lịch sinh thái rừng gắn với văn hóa bản địa dân tộc thiểu số tại Krông Trai.
- Cải thiện hạ tầng và liên kết không gian: Đầu tư mở rộng đường giao thông tiếp cận các thắng cảnh hoang sơ (Vực Phun, Bãi Môn, Gành Đá Đĩa); thiết lập các tour liên hoàn khắc phục tính phân tán địa lý.
- Nâng cao chất lượng nhân lực: Cải tiến giáo trình tại 4 cơ sở đào tạo của tỉnh theo hướng tăng thời lượng thực hành, chú trọng đào tạo năng lực ngoại ngữ (tiếng Anh) cho đội ngũ phục vụ và quản trị.
- Cơ chế chính sách: Tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục pháp lý đất đai, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án du lịch trọng điểm.
Đóng góp của đề tài
Tác giả tự khẳng định: Trước đây đã có các công trình nghiên cứu tổng quan về lịch sử, văn hóa, địa danh Phú Yên (Nguyễn Thành Quan, Nguyễn Đình Chúc, Trần Huyền Ân) hoặc các định hướng chung trong đề án quy hoạch của tỉnh, nhưng chưa có công trình nào đi sâu phân tích toàn diện thực trạng khai thác riêng mảng tài nguyên du lịch tự nhiên của địa phương. Khóa luận là công trình chuyên biệt đầu tiên đánh giá chi tiết cả 5 nhóm tài nguyên tự nhiên của tỉnh Phú Yên gắn với chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 1996–2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi số liệu về kinh tế và du lịch dừng lại ở mốc thống kê năm 2020. Nhiều nguồn tài nguyên tự nhiên có giá trị cao (như các mỏ nước khoáng nóng, hệ sinh thái vịnh biển) mới được khảo sát, mô tả ở mức độ định tính và hiện trạng bề nổi, chưa có điều kiện lượng hóa sức chứa du lịch sinh thái chuyên sâu.
- Hướng mở: Cần tiếp tục theo dõi, cập nhật các số liệu sau năm 2020; mở rộng nghiên cứu giải pháp liên kết vùng cụ thể giữa tam giác du lịch Phú Yên – Bình Định – Khánh Hòa và kết nối chuỗi sản phẩm du lịch biển – rừng với các tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Lắk).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên ngành Địa lí học, Địa lí du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành, cũng như các nhà nghiên cứu đang thực hiện đề tài về quy hoạch du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Nội dung giá trị nhất:
- Chương 2 là tài liệu địa chí du lịch chi tiết, cung cấp thông số cụ thể về tọa độ, diện tích, nguồn gốc địa chất và cảnh quan của các địa danh nổi tiếng (Gành Đá Đĩa, Thạch Bi Sơn, Vực Phun, vịnh Xuân Đài, đầm Ô Loan, suối khoáng Triêm Đức, KBT Krông Trai).
- Hệ thống dữ liệu chuỗi thời gian về lượng khách và doanh thu du lịch từ năm 1996 đến năm 2020 của tỉnh Phú Yên.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân chia tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Phú Yên thành những nhóm nào?
Khóa luận chia thành 5 nhóm tài nguyên: (1) Địa chất – địa mạo (Gành Đá Đĩa, Núi Đá Bia, Núi Chóp Chài, Núi Nhạn); (2) Khí hậu (nhiệt đới gió mùa phân hóa 2 mùa rõ rệt); (3) Biển đảo (vịnh Xuân Đài, Vũng Rô, đầm Ô Loan, bãi Từ Nham, Long Thủy...); (4) Sông, hồ, thác, nước khoáng (sông Ba/Đà Rằng, Vực Phun, hồ thủy điện Sông Hinh, khoáng nóng Phú Sen, Triêm Đức); (5) Sinh vật (Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai, KDL sinh thái Sơn Nguyên).
2. Gành Đá Đĩa được tác giả mô tả có nguồn gốc hình thành và quy mô địa chất như thế nào?
Gành Đá Đĩa (xã An Ninh Đông, huyện Tuy An) có diện tích khoảng 2 km² (nơi hẹp nhất 50 m, dài nhất 200 m). Đây là đá bazan hình thành cách đây khoảng 200 triệu năm do hoạt động phun trào núi lửa tại cao nguyên Vân Hòa, nham thạch chảy ra biển gặp nước lạnh đông cứng lại và nứt theo nhiều chiều do dị ứng lực; được xếp hạng thắng cảnh quốc gia năm 1997.
3. Khóa luận nêu những hạn chế cốt lõi nào trong cơ cấu doanh thu và thời gian lưu trú của du khách tại Phú Yên?
Thời gian lưu trú của khách rất ngắn, bình quân chỉ đạt 1,5 – 2 ngày/khách. Cơ cấu doanh thu bị lệch: dịch vụ ăn uống chiếm 45%, lưu trú chiếm 34%, trong khi dịch vụ lữ hành và các dịch vụ bổ trợ khác chiếm tỷ lệ không đáng kể do thiếu các sản phẩm vui chơi, mua sắm phụ trợ.
4. Tỉnh Phú Yên có những nguồn nước khoáng nóng tự nhiên nào có thể khai thác du lịch y học, chữa bệnh?
Tỉnh có các nguồn nước khoáng nhiệt độ từ 50°C đến trên 70°C phân bố tại các huyện Phú Hòa, Đồng Xuân và Tây Hòa, tiêu biểu gồm: suối khoáng Phú Sen (nhiệt độ >70°C, giàu khoáng chất và bùn khoáng), suối khoáng Triêm Đức (70°C bên bờ sông Kỳ Lộ), suối Lạc Sanh, Trà Ô và Mỹ Thành.
5. Những nguyên nhân chính nào khiến việc kết nối các tuyến du lịch tại Phú Yên gặp khó khăn?
Nguyên nhân do tài nguyên phân bố rải rác, khoảng cách xa nhau và thiếu điểm dừng chân trung gian (Gò Thì Thùng cách Tuy Hòa 45 km; Gành Đá Đĩa cách Mũi Điện/Núi Đá Bia 60 km), hạ tầng giao thông kết nối trực tiếp đến các điểm hoang sơ (như Vực Phun, Bãi Môn) còn trắc trở, chưa được đầu tư đồng bộ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Bảo Trân đã hệ thống hóa cơ sở khoa học và thực tiễn về việc khai thác tài nguyên tự nhiên phục vụ phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Phú Yên. Bằng các phương pháp nghiên cứu địa lí đặc thù, công trình đã làm rõ tiềm năng nổi trội của 5 nhóm tài nguyên tự nhiên, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về hạ tầng, sản phẩm và tính liên kết không gian trong giai đoạn 1996–2020. Những định hướng và giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ hữu ích cho công tác quy hoạch không gian du lịch và phát triển kinh tế biển đảo của địa phương đến năm 2030.