Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, nhu cầu của con người ngày càng hướng đến việc hưởng thụ đời sống tinh thần, trong đó du lịch trở thành một trong những lựa chọn hàng đầu. Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc phát triển du lịch văn hóa dựa trên nguồn tài nguyên sẵn có là các di tích lịch sử - văn hóa và kiến trúc nghệ thuật được xem là hướng đi phù hợp với tiềm lực kinh tế, đồng thời hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động địa phương. Tỉnh Thái Bình là vùng đất ven biển thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, sở hữu hệ thống tài nguyên nhân văn phong phú với 2.539 di tích lịch sử - văn hóa (tính đến hết năm 2014 có 110 di tích và cụm di tích cấp quốc gia, trong đó có 02 di tích quốc gia đặc biệt là Chùa Keo và Đền Trần; 498 di tích cấp tỉnh). Mặc dù giàu tiềm năng, thực tiễn phát triển du lịch tại Thái Bình còn bộc lộ nhiều hạn chế: sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu tính đặc thù và năng lực cạnh tranh trên thị trường du lịch còn thấp.

Khóa luận tốt nghiệp "Du lịch di tích kiến trúc nghệ thuật với sự phát triển của du lịch Thái Bình (Khảo sát tại 3 di tích lớn: Chùa Keo, Đền Trần và Đền Tiên La)" do sinh viên Nguyễn Thị Hải Yến thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thị Nguyệt (Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2018) được triển khai nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

  1. Phân tích hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, trọng tâm là các di tích kiến trúc nghệ thuật trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng khai thác hoạt động du lịch tại 03 điểm di tích tiêu biểu: Chùa Keo (huyện Vũ Thư), Đền Trần và Đền Tiên La (huyện Hưng Hà).
  3. Xác định những thuận lợi, khó khăn và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác, năng lực cạnh tranh cho du lịch di tích kiến trúc nghệ thuật tại địa phương.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch tại các di tích kiến trúc nghệ thuật và mối quan hệ với sự phát triển du lịch tỉnh Thái Bình.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại 03 điểm di tích lớn gồm Chùa Keo (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư), Đền Trần (xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà) và Đền Tiên La (xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà), có liên hệ so sánh với một số điểm di tích khác trên địa bàn tỉnh.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp và thực trạng hoạt động du lịch được thu thập, phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2014 – 2017 và cập nhật đến đầu năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Tác giả xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên hệ thống khái niệm chuẩn mực của ngành du lịch và các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:

    • Khái niệm du lịch: Tiếp cận theo Từ điển Oxford (1811), định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2005.
    • Du lịch văn hóa: Khai thác định nghĩa trong Luật Du lịch 2005 ("hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống"), phân tích dưới hai góc độ: trải nghiệm của du khách và quy trình tạo sản phẩm của nhà cung ứng.
    • Tài nguyên du lịch: Tổng hợp quan điểm của nhà địa lý Pirojnik (1985), các học giả Trung Quốc, Trần Đức Chung và cộng sự (2014), cùng quy định tại Điều 13 Luật Du lịch 2005 về phân loại tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn.
    • Di tích lịch sử - văn hóa và Di tích kiến trúc nghệ thuật: Dẫn chiếu Hiến chương Venice (1964), Pháp lệnh Bảo vệ và Sử dụng Di tích lịch sử - văn hóa và Danh lam thắng cảnh (1984), Luật Di sản văn hóa. Phân định 04 loại hình di tích: lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ học và danh lam thắng cảnh.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp khảo sát thực địa (điền dã): Trực tiếp quan sát cảnh quan, kiến trúc, quy trình tổ chức và quản lý tại Chùa Keo, Đền Trần, Đền Tiên La; ghi nhận thực tế hành vi của du khách và hoạt động dịch vụ thương mại.
    • Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp: Tập hợp, xử lý dữ liệu báo cáo kinh tế - xã hội, số lượng khách, doanh thu du lịch từ các cơ quan quản lý nhà nước để đánh giá thực trạng.
    • Phương pháp xã hội học: Tiến hành phát phiếu điều tra khảo sát thực tế đối với $n = 40$ du khách tại 03 điểm di tích nghiên cứu nhằm thu thập thông tin về cơ cấu độ tuổi, nghề nghiệp, mức độ chi tiêu và nhu cầu quay trở lại.
  • Nguồn dữ liệu:

    • Báo cáo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình (giai đoạn 2014 – 2017).
    • Báo cáo công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa của Ban Quản lý Di tích tỉnh Thái Bình (năm 2015).
    • Số liệu hành chính từ UBND tỉnh Thái Bình (2016), Phòng Văn hóa huyện Hưng Hà và Ban Quản lý Di tích Chùa Keo.
    • Dữ liệu sơ cấp thu thập từ bảng hỏi khảo sát du khách năm 2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về du lịch, du lịch văn hóa, tài nguyên du lịch và vai trò của di tích kiến trúc nghệ thuật trong phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, chương này phác thảo bức tranh tổng quan về tiểu vùng văn hóa Thái Bình:

  • Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội: Thái Bình nằm ở phía đông nam đồng bằng sông Hồng, địa hình bằng phẳng (độ dốc $< 1%$), được bao bọc bởi hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hóa và tiếp giáp biển tại Thái Thụy, Tiền Hải. Cơ cấu kinh tế năm 2016 ghi nhận nông - lâm - thủy sản tăng $4,19%$, công nghiệp - xây dựng tăng $15,12%$, thương mại dịch vụ tăng $9,7%$.
  • Mật độ di tích và văn hóa dân gian: Toàn tỉnh có 2.539 di tích, phân bố tập trung trên $50%$ tại ba huyện Hưng Hà (667 di tích), Thái Thụy (447 di tích), Quỳnh Phụ (351 di tích); Vũ Thư có 298 di tích, trong khi TP. Thái Bình có 85 di tích. Tỉnh sở hữu gần 82 lễ hội đặc sắc, là "cái nôi chèo" với các gánh chèo cổ (chèo Khuốc - Đông Hưng, chèo Hà Xá - Hưng Hà, chèo Sáo Đền - Vũ Thư), nghệ thuật chầu văn, hầu đồng, múa rối nước và các làng nghề truyền thống (chạm bạc Đồng Xâm, dệt đũi Nam Cao, bánh cáy làng Nguyễn).
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Chiếm ưu thế tuyệt đối với 770 ngôi chùa, 666 đình làng, 343 đền, 332 miếu phủ, 295 từ đường.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại một số điểm du lịch di tích kiến trúc nghệ thuật ở Thái Bình

Chương 2 là phần trọng tâm khảo sát thực tế, tập trung mô tả giá trị kiến trúc nghệ thuật và phân tích các mặt hoạt động du lịch tại 03 điểm di tích:

  1. Giá trị kiến trúc của 03 điểm di tích khảo sát:

    • Chùa Keo (Thần Quang Tự - Vũ Thư): Di tích quốc gia đặc biệt (xếp hạng năm 2012), khởi dựng từ thời Lý, xây dựng lại tại Thái Bình giai đoạn 1630 – 1633 thời Lê Trung Hưng. Bố cục mặt bằng "Tiền Phật hậu Thánh", "Nội công ngoại quốc". Hiện trạng còn 17 công trình với 128 gian trên diện tích 2.022 m² (nguyên bản có 21 công trình, 157 gian trên 58.000 m²). Điểm nhấn là Gác chuông cao 11,04 m kết cấu 3 tầng mái bằng gỗ chịu lực với gần 100 đàn đầu voi, 12 mái ngói uốn cong, treo chuông đồng đúc năm 1686 và khánh đá cao 1,2 m.
    • Đền Trần (Hưng Hà): Quần thể lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần trên diện tích quy hoạch 22 ha (khu đền chính hơn 5.000 m²), xếp hạng di tích quốc gia năm 1990; Lễ hội Đền Trần là Di sản phi vật thể quốc gia (2018). Tòa Hậu Cung kết cấu chữ "Đinh" diện tích 360 m² với hệ thống rồng đá chạm trổ tinh xảo, phụng thờ các vị vua đầu triều và tôn thất nhà Trần.
    • Đền Tiên La (Hưng Hà): Di tích quốc gia (xếp hạng năm 1986), diện tích 4.000 m², thờ Đông Nhung Đại tướng quân Bát Nạn Vũ Thị Thục thời Hai Bà Trưng. Kiến trúc "Tiền nhất - Hậu đinh", nổi bật với Tòa Trung tế kiến trúc "chồng diêm cổ các" hoàn toàn bằng đá với 4 cột chạm tứ linh, 12 cột chạm long vân, 8 xà đá chạm tứ quý kết hợp tứ linh.
  2. Hiện trạng lượng khách và doanh thu: Lượng khách du lịch đến Thái Bình tăng trưởng liên tục qua các năm, năm 2016 đạt gần 600.000 lượt (hơn 50% tập trung tại các di tích kiến trúc nghệ thuật). Doanh thu du lịch TP. Thái Bình tăng dần đều:

Năm Lượt khách quốc tế (lượt) Lượt khách nội địa (lượt) Doanh thu du lịch TP. Thái Bình (Tỷ đồng)
2014 5.000 305.000 133
2015 5.600 Không nêu riêng 141
2016 6.000 Tổng gần 600.000 147
2017 6.300 Không nêu riêng 158
  1. Kết quả khảo sát mẫu ($n = 40$ du khách):

    • $37/40$ phiếu lựa chọn 03 điểm di tích khảo sát (Chùa Keo, Đền Trần, Đền Tiên La); 03 phiếu chọn các điểm khác (Đền Đồng Bằng, Đền Đồng Xâm, Đền A Sào).
    • Độ tuổi từ 8 – 55 tuổi, trong đó $45%$ là người nội trợ và hưu trí đến từ Thái Bình và các tỉnh lân cận (Hải Phòng, Nam Định).
    • Trên $70%$ du khách bày tỏ mong muốn quay trở lại vào mùa lễ hội.
  2. Hiện trạng nguồn nhân lực tại 03 điểm di tích (năm 2018):

Điểm di tích Số lượng nhân viên (người) Hướng dẫn viên (HDV) và Cộng tác viên (CTV) Hiện trạng bố trí
Chùa Keo 20 5 Có 02 HDV thường trú làm việc cả năm
Đền Trần 22 3 Không có HDV thường trú, chỉ dùng CTV mùa lễ hội
Đền Tiên La 10 2 Không có HDV thường trú, chỉ dùng CTV mùa lễ hội
  1. Hạn chế trong dịch vụ và hạ tầng phụ trợ:
    • Tính mùa vụ cao: Khách chủ yếu tập trung vào mùa lễ hội đầu xuân và tháng 9 âm lịch; ngày thường vắng vẻ.
    • Cơ sở lưu trú và ăn uống yếu kém: Hưng Hà có 14 nhà nghỉ/khách sạn (quy mô từ 4 – 14 phòng/cơ sở); Vũ Thư có 13 cơ sở (quy mô từ 5 – 36 phòng/cơ sở). Nhà hàng đặc sản tập trung ở TP. Thái Bình, tại điểm di tích chỉ có quán ăn nhỏ lẻ.
    • Mức chi tiêu rất thấp: Điển hình tại Chùa Keo, mức chi tiêu bình quân của khách nội địa không vượt quá 20.000 VNĐ/khách, trong đó tiền công đức chiếm khoảng $70%$, chi tiêu mua sắm đồ lưu niệm và ăn uống chỉ chiếm $30%$.
    • Hàng hóa lưu niệm và trật tự du lịch: Quầy lưu niệm chủ yếu bán đồ chơi, vòng tay nhập khẩu từ Trung Quốc, thiếu vắng sản phẩm làng nghề truyền thống; còn tình trạng chèo kéo khách, người ăn xin bám đuổi và du khách xâm phạm di tích (trèo gác chuông Chùa Keo chụp ảnh).

Chương 3: Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch Thái Bình và giải pháp khắc phục

Từ bảng mục lục và nội dung khái quát trong khóa luận, tác giả hệ thống hóa các nhóm giải pháp nhằm khắc phục các tồn tại ở Chương 2:

  • Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ cảnh quan môi trường tại các khu di tích.
  • Thu hút nguồn vốn đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, biển chỉ dẫn và hệ thống lưu trú.
  • Xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng, khôi phục diễn xướng dân gian (chèo, chầu văn) phục vụ thường xuyên thay vì chỉ diễn trong hội làng.
  • Đào tạo chuẩn hóa nguồn nhân lực và đội ngũ thuyết minh viên tại điểm.
  • Đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến du lịch, kết nối tour tuyến và triển khai thí điểm mô hình homestay tại các làng quê có di tích kiến trúc nghệ thuật.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả dữ liệu cụ thể:

    • Khóa luận làm rõ bức tranh định lượng về hệ thống di tích Thái Bình với 2.539 di tích, trong đó di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm gần $18%$ (gồm 770 ngôi chùa, 666 đình làng, 343 đền, 332 miếu phủ, 295 từ đường).
    • Cung cấp số liệu chi tiết về biến động lượng khách quốc tế (5.000 lượt năm 2014 lên 6.300 lượt năm 2017) và doanh thu du lịch TP. Thái Bình (133 tỷ đồng năm 2014 lên 158 tỷ đồng năm 2017).
    • Chỉ ra chỉ số chi tiêu thực tế của du khách tại điểm di tích Chùa Keo ở mức thấp ($< 20.000$ VNĐ/khách), phản ánh sự nghèo nàn trong chuỗi cung ứng dịch vụ bổ trợ.
    • Phản ánh thực trạng mất cân đối nhân sự du lịch tại điểm thông qua thống kê chi tiết tỷ lệ nhân viên/hướng dẫn viên tại Chùa Keo (20 nhân viên, 5 HDV/CTV), Đền Trần (22 nhân viên, 3 HDV/CTV), Đền Tiên La (10 nhân viên, 2 HDV/CTV).
  • Kiến nghị giải pháp của tác giả:

    • Đề xuất giải pháp quản lý phân luồng giao thông, lắp đặt hệ thống biển chỉ dẫn du lịch.
    • Tích hợp biểu diễn nghệ thuật truyền thống (chèo, ca trù, hầu đồng) và giới thiệu sản phẩm ẩm thực, làng nghề đặc sản (bánh cáy làng Nguyễn, bạc Đồng Xâm, đũi Nam Cao) trực tiếp vào không gian dịch vụ phụ trợ quanh di tích.
    • Định hướng phát triển mô hình du lịch cộng đồng (homestay) tại các làng quê nông thôn quanh di tích kiến trúc.
  • Đóng góp học thuật và thực tiễn:

    • Khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu trước đây (vốn chỉ khảo sát du lịch văn hóa chung chung hoặc từng di tích riêng lẻ) bằng cách tiếp cận chuyên biệt loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật trên địa bàn tỉnh.
    • Kết hợp khảo sát thực địa điền dã với số liệu xã hội học để phản ánh trung thực những mặt hạn chế trong công tác quản lý, khai thác du lịch tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn nhỏ ($n = 40$ phiếu khảo sát), chủ yếu mang tính chất minh họa thực địa, chưa phân tầng sâu theo từng nhóm đối tượng khách (khách quốc tế, khách gia đình, khách học sinh - sinh viên).
    • Dữ liệu tài chính, doanh thu du lịch cấp tỉnh chưa được tách bạch chi tiết cho từng điểm di tích mà chủ yếu sử dụng số liệu gián tiếp của TP. Thái Bình và ước tính tại Chùa Keo.
    • Phạm vi khảo sát tập trung tại hai huyện Hưng Hà và Vũ Thư, chưa bao quát toàn diện các di tích kiến trúc nghệ thuật có tiềm năng khác tại Quỳnh Phụ, Kiến Xương hay Thái Thụy.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra xã hội học với dung lượng mẫu lớn hơn, đánh giá sâu về mức độ hài lòng và chi trả của du khách đối với từng dịch vụ cụ thể.
    • Nghiên cứu mô hình liên kết chuỗi sản phẩm du lịch liên tỉnh (kết nối di tích kiến trúc nghệ thuật Thái Bình với Nam Định, Hải Dương, Hải Phòng) nhằm giảm thiểu tính mùa vụ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành: Ngành Việt Nam học, Du lịch học, Văn hóa học và Quản lý văn hóa có thể tham khảo phương pháp khảo sát thực địa, cấu trúc phân tích tài nguyên du lịch nhân văn và cách tiếp cận di tích dưới góc độ kinh tế du lịch.
  • Cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành: Cung cấp tư liệu thực trạng hữu ích cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, Ban Quản lý Di tích các huyện Hưng Hà, Vũ Thư trong việc hoạch định chính sách quản lý điểm đến, tổ chức bãi đỗ xe, quầy lưu niệm và giải quyết nạn chèo kéo khách.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao: Mục khảo cứu kiến trúc chi tiết của Gác chuông Chùa Keo, Hậu cung Đền Trần, Tòa Trung tế bằng đá tại Đền Tiên La và hệ thống số liệu nhân sự, lưu trú năm 2018.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát chuyên sâu tại những điểm di tích nào ở Thái Bình?
Đề tài khảo sát tập trung tại 03 di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu: Chùa Keo (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư), Đền Trần (xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà) và Đền Tiên La (xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà).

2. Điểm đặc biệt nhất trong kiến trúc nghệ thuật của Tòa Trung tế Đền Tiên La là gì?
Tòa Trung tế Đền Tiên La được xây dựng theo kiểu nhà phương đình với kiến trúc "chồng diêm cổ các", trong đó toàn bộ vật liệu chịu lực đều làm bằng đá (hệ thống cột đá, xà đá, kèo đá) được chạm khắc tinh xảo: 4 cột chạm tứ linh, 12 cột chạm long vân, 8 xà chạm tứ quý đan xen tứ linh.

3. Khảo sát xã hội học của tác giả ghi nhận đặc điểm gì về du khách đến 3 điểm di tích?
Trong 40 phiếu khảo sát, có 37 du khách lựa chọn tham quan 3 điểm di tích trên. Độ tuổi du khách từ 8 đến 55 tuổi, trong đó $45%$ là người làm nội trợ và hưu trí sinh sống tại Thái Bình cùng các vùng lân cận (Hải Phòng, Nam Định). Hơn $70%$ du khách được hỏi có nguyện vọng quay lại vào mùa lễ hội.

4. Mức chi tiêu trung bình của khách nội địa tại Chùa Keo theo số liệu của Ban quản lý là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý Di tích Chùa Keo, mức chi tiêu bình quân của khách nội địa chưa vượt quá 20.000 VNĐ/khách, trong đó tiền công đức tâm linh chiếm khoảng $70%$, phần còn lại chi cho ăn uống và mua sắm đồ lưu niệm.

5. Đội ngũ thuyết minh viên tại 3 điểm di tích được bố trí như thế nào vào năm 2018?
Chỉ duy nhất Chùa Keo có 02 hướng dẫn viên thường trú làm việc quanh năm (tổng 5 HDV/CTV). Đền Trần (3 HDV/CTV) và Đền Tiên La (2 HDV/CTV) đều không có hướng dẫn viên thường trú mà chỉ thuê cộng tác viên thời vụ vào mùa lễ hội.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tài nguyên du lịch di tích kiến trúc nghệ thuật tại tỉnh Thái Bình thông qua việc khảo sát điển hình tại Chùa Keo, Đền Trần và Đền Tiên La. Công trình phản ánh khách quan tiềm năng văn hóa phong phú song hành cùng những điểm nghẽn về hạ tầng lưu trú, nhân lực thuyết minh, tính mùa vụ và mức chi tiêu dịch vụ thấp của du khách. Các đề xuất giải pháp về quy hoạch sản phẩm đặc thù, bảo vệ cảnh quan và liên kết dịch vụ làng nghề mang tính ứng dụng thực tiễn cho công tác quản lý và phát triển du lịch bền vững tại địa phương.