phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì khóa luận gồm các phần sau: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển du lịch tại một số điểm di tích kiến trúc nghệ thuật ở Thái Bình. Chƣơng 3: Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch kiến trúc nghệ thuật ở Thái Bình và giải pháp khắc phục 5 c PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề lí luận 1.
Khái niệm về du lịch Ngày nay, du lịch đã và đang đƣợc xem là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, có nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng cao. Phát triển du lịch đang trở thành mục tiêu hàng đầu của tất cả mọi quốc gia trên thế giới. Du lịch không những đóng góp một tỷ trọng lớn trong GDP cả nƣớc mà du lịch còn giải quyết đƣợc vấn đề việc làm cho một số khu vực chƣa phát triển. Tuy nhiên, để có thể hiểu một cách đầy đủ về khái niệm du lịch thì không phải là một điều đơn giản vì hiện nay có rất nhiều quan điểm về khái niệm du lịch.
Từdu lịch (Tourism) xuất hiện lần đầu tiên ở trong từ điển Oxford xuất bản năm 1811 tại Anh với 2 ý nghĩa là đi xa và du lãm, nhƣng ngày nay, khi mà du lịch đang trở thành một hiện tƣợng kinh tế xã hội phổ biến thì khái niệm du lịch đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào góc độ tiếp cận. Đối với ngƣời đi du lịch, du lịch là cuộc hành trình và lƣu trú của họ ở ngoài nơi cƣ trú để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau: hòa bình, hữu nghị, tìm kiếm kinh nghiệm sống hoặc thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần khác. Đối góc độ những ngƣời kinh doanh du lịch, du lịch là quá trình sản xuất các điều kiện về du lịch và phục vụ, nhằm thỏa mãn, đáp ứng những nhu cầu của ngƣời du lịch và đạt đƣợc mục đích cuối cùng là thu lợi nhuận. Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourist Organization) có định nghĩa là: du lịch gồm tất cả mọi hoạt động của con ngƣời du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn; cũng nhƣ mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhƣng không quá một năm, ở bên 6 c ngoài môi trƣờng sống định cƣ; nhƣng loại trừ các du hành có mục đích là kiếm tiền.
Trong luật Du lịch Việt Nam có nêu rằng: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Nhƣ vậy, có rất nhiều khái niệm du lịch khác nhau mà theo các nhà nghiên cứu “mỗi một nhà nghiên cứu về du lịch lại có một định nghĩa khái niệm du lịch riêng”. Du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang những đặc điểm của ngành kinh tế vừa có những đặc điểm của ngành văn hóa-xã hội.
Khái niệm về du lịch văn hóa Du lịch văn hóa là một trong hai những lĩnh vực quan trọng nhất của du lịch, đó là du lịch thiên nhiên và du lịch văn hóa. Theo các nhà nghiên cứu đã định nghĩa thì văn hóa là tất cả những gì do con ngƣời tạo ra. Du lịch cũng là một hoạt động do con ngƣời tạo ra nên có thể khẳng định rằng, du lịch là một dạng thức văn hóa đặc biệt. Khái niệm “văn hóa” đƣợc tạo ra trong du lịch dùng để chỉ một lĩnh vực du lịch riêng, phân biệt với các lĩnh vực du lịch khác ở việc khai thác và sử dụng các tài nguyên văn hóa và tạo ra những sản phẩm phục vụ cho du khách.
Có thể hiểu, du lịch văn hóa là một hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Mục đích chính của du lịch văn hóa là nâng cao hiểu biết cho con ngƣời thông qua các chuyến đi đến những vùng đất mới, để con ngƣời đƣợc trải nghiệm và tìm hiểu về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật hay những phong tục tập quán của địa phƣơng, đất nƣớc đến du lịch hoặc có thể kèm theo những mục đích khác nữa. 7 c Du lịch văn hóa là một bộ phận của du lịch, vì vậy, du lịch văn hóa vừa mang những phẩm chất chung của du lịch vừa mang những phẩm chất riêng để phân biệt với những bộ phận khác. Sự khác biệt của du lịch văn hóa và để phân biệt với những hình thức du lịch khác là ở sản phẩm du lịch.
Du lịch văn hóa khai thác các tài nguyên văn hóa có thể kể đến nhƣ: các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa trong đó có các di tích kiến trúc nghệ thuật; các phong tục, lễ hội, tôn giáo tín ngƣỡng; nghệ thuật diễn xƣớng, ẩm thực, văn hóa các tộc ngƣời, các công trình đƣơng đại… Nhờ có những tài nguyên văn hóa đó mà các nhà kinh doanh tạo nên những sản phẩm du lịch để phục vụ cho nhu cầu của du khách. Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về du lịch văn hóa, nhƣng quan điểm phổ biến nhất hiện nay và đƣợc đƣa vào Luật du lịch năm 2005 là: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thông”. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, quan điểm này chƣa cụ thể và chƣa nêu đƣợc bản chất của du lịch văn hóa. Cũng nhƣ quan niệm về du lịch, chúng ta cần chú ý đến điểm nhìn du lịch, tức là phải trên cả điểm nhìn khách du lịch- ngƣời mua hàng và điểm nhìn của những ngƣời kinh doanh du lịch-ngƣời bán hàng.
Du lịch văn hóa đƣợc xác định chủ yếu dựa trên ba yếu tố là: tài nguyên văn hóa, nhu cầu du khách và khả năng cung ứng dịch vụ thích hợp của nhà cung cấp, vì vậy, ở mỗi góc nhìn khác nhau, du lịch văn hóa sẽ đƣợc hiểu một cách khác nhau. Đứng trên góc độ của du khách- những ngƣời mua và sử dụng dịch vụ du lịch, du lịch văn hóa đƣợc hiểu là các hoạt động đa dạng của du khách rời khỏi nơi cƣ trú cảu mình trong một không gian và thời gian nhất định, nhằm thƣởng thức, trải nghiệm, khám phá những điều mới lạ và khác biệt về văn hóa. Còn đứng trên góc độ các nhà cung ứng du lịch, thì du lịch văn hóa là toàn bộ các dịch vụ du lịch cho con ngƣời tạo ra, các hoạt động khai thác, sử 8 c dụng tài nguyên văn hóa nhằm tạo ra sản phẩm du lịch mới lạ và khác biệt phục vụ nhu cầu thƣởng thức, trải nghiệm, khám phá của du khách trong một không gian và thời gian nhất định. Nói tới du lịch văn hóa là nói tới nhiều loại hình, hình thức du lịch khác nhau, căn cứ vào phƣơng thức tổ chức hoạt động, mục đích chuyến đi và quan trọng nhất là tài nguyên du lịch văn hóa mà phân chia du lịch văn hóa thành nhiều loại hình nhƣ: du lịch lễ hội, du lịch phong tục tập quán, du lịch tôn giáo tín ngƣỡng, du lịch di tích kiến trúc nghệ thuật, du lịch về nguồn, du lịch văn hóa tộc ngƣời… Nhƣ vậy, du lịch văn hóa cần đƣợc hiểu là một lĩnh vực du lịch có phạm vi hoạt động rất rộng lớn, bao gồm toàn bộ những hoạt động du lịch có khai thác và sử dụng tài nguyên văn hóa hay các yêu tố con ngƣời để phục vụ nhu cầu của du khách.
Khai thác hợp lí các tài nguyên văn hóa để phát triển du lịch văn hóa là một lựa chọn sáng suốt cho những quốc gia muốn đẩy mạnh phát triển ngành du lịch là ngành kinh tế trọng điểm. Khái niệm tài nguyên du lịch Tài nguyên là tất cả những nguồn năng lƣợng, vật chất, thông tin và tri thức và mối quan hệ đƣợc khai thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Đó là những thành tạo hay tính chất của thiên nhiên, những công trình, những sản phẩm do bàn tay khối óc của con ngƣời làm nên, những khả năng của loài ngƣời… đƣợc sử dụng và phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng. Tài nguyên có vai trò quan trọng trong tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế để phục vụ đời sống con ngƣời.
Sử dụng tài nguyên hợp lý và hiệu quả là một con đƣờng đúng đắn để phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Tài nguyên du lịch là loại tài nguyên vừa mang những đặc điểm giống nhƣ những loại tài nguyên nói chung, vừa mang một số đặc điểm riêng gắn với sự phát triển của ngành Du lịch. 9 c Cũng giống nhƣ khái niệm du lịch, cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tài nguyên du lịch, mỗi nhà nghiên cứu lại định nghĩa tài nguyên du lịch theo góc tiếp cận riêng của mình, vì vậy mà khái niệm này vẫn chƣa đƣợc định nghĩa thống nhất. Tài nguyên du lịch theo nhà địa lý du lịch nổi tiếng Pirojnik (1985) định nghĩa: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên và văn hóa-lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực và tinh thần của con ngƣời, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này đƣợc sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tƣơng lai và trong điều kiện kinh tế, kỹ thuật cho phép.” Có thể thấy, định nghĩa của Pirojnik còn nhiều điểm hạn chế nhất định.
Trên thực tế, không phải bất cứ mọi dạng, mọi kiểu địa hình, kiểu khí hậu nào cũng đều có khả năng thu hút khách du lịch, hay nói cách khác không phải tất cả chúng đều là tài nguyên du lịch. Ngƣợc lại, nhiều khi có những kiểu địa hình, khí hậu lại là những điều kiện bất lợi, cản trở việc thu hút khách du lịch nhƣ địa hình hiểm trở, khí hậu ô nhiễm, bãi biển bị xâm thực… cũng là điều kiện không hấp dẫn khách du lịch, trở ngại cho ngành Du lịch phát triển.