Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu nước ngoài 1. Tình hình nghiên cứu về cho thuê rừng trên thế giới Thuê rừng và đất rừng là một đòi hỏi khách quan trong quá trình phát triển lâm nghiệp ở các quốc gia trên thế giới và thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp. Việc cho thuê rừng và đất rừng thường được thực hiện giữa hai chủ thể là Chính phủ (cho thuê) và tư nhân (đi thuê), đây là một cách để duy trì sự kiểm soát tài nguyên rừng và đất rừng ở một mức độ nhất định hơn là để tư nhân hoá toàn bộ tài sản quốc gia.
Những kinh nghiệm về thuê rừng và đất rừng của nhiều quốc gia trên thế giới được đề cập đến trong tham luận của Adrian Whiteman (1998) tại hội thảo “Leasing of Publicly owned forests: learning from international experiences”. Trong tham luận này, tác giả đã có luận bàn về mục đích của các quốc gia khi đưa ra chính sách này; các khía cạnh kinh tế của chính sách cho thuê rừng như làm thế nào xác định được giá cho thuê; các khía cạnh thể chế của việc cho thuê; các nhân tố kinh tế và tài chính chủ yếu cần được cân nhắc khi thiết lập các phương án cho thuê. - Các mục đích của chính sách: (1) Cải thiện tình hình tài chính của Chính phủ từ sự loại bỏ các tài sản công cộng. Đối với ngành lâm nghiệp, áp dụng đối với những tài sản rừng không có lợi ích phi thương mại đáng kể (các lợi ích chiến lược quốc gia, các lợi ích xã hội hay môi trường) hoặc những tài sản rừng có đem lại những lợi ích đó trong tương lai nhưng phải được bảo đảm hợp lý bằng một khung pháp lý đủ mạnh.
(2) Tăng hiệu quả của ngành lâm nghiệp thông qua việc tiếp nhận những kỹ năng quản lý và đầu tư của thành phần kinh tế tư nhân. (3) Phát triển công nghiệp nội địa trên nền tảng tài sản thuộc sở hữu công cộng. (4) Hỗ trợ sự phát triển của cộng đồng địa phương. c 5 - Những hình thức: (1) Cho thuê thương mại hoàn toàn: Người đi thuê có quyền sử dụng đất và các tài sản có liên quan trên đất trong một chu kỳ nhất định; giá thuê được xác định là giá thị trường; (2) Hợp đồng hoặc giấy phép khai thác gỗ; (3) Chuyển nhượng rừng; (4) Thoả thuận quản lý rừng.
Theo tác giả, việc lựa chọn hình thức nào là phù hợp nhất trong từng trường hợp cụ thể cần quan tâm đến nhân tố sau: - Loại rừng và mức độ phức tạp đòi hỏi của công tác quản lý - Lượng thu nhập mà Chính phủ mong muốn đạt được từ việc cho thuê… - Năng lực thể chế của quản lý hành chính lâm nghiệp để kiểm soát việc cho thuê - Sức mạnh của các thước đo khác, chẳng hạn như khung điều chỉnh pháp lý chung cho thành phần kinh tế tư nhân… - Các khía cạnh kinh tế của thuê rừng: Ở đây chủ yếu liên quan đến vấn đề định giá rừng cho thuê, có hai kỹ thuật được sử dụng để xác định giá trị của rừng trồng thuộc sở hữu công cộng là: Sử dụng giá thị trường của rừng trồng có khả năng so sánh mà được mua hoặc bán gần đây để phân tích nhằm đưa ra giá định hướng. Kỹ thuật này thường đòi hỏi phải có một bộ cơ sở dữ liệu đồ sộ về giá bán rừng trồng, đây là một điều không tưởng đối với nhiều quốc gia. Tính toán giá trị thặng dư của các khoản thu nhập mong đợi trong tương lai và chi phí từ mỗi rừng trồng (đã được chiết khấu), còn gọi là phương pháp giá trị mong đợi (the expectation value method – EVM). Việc tính toán giá trị mong đợi của rừng trồng đòi hỏi phải đáp ứng đủ 4 loại thông tin sau: Lợi tức dự kiến thu được từ rừng trồng (dựa trên kích thước, chủng loại, chất lượng gỗ); giá bán gỗ tương ứng; các chi phí quản lý rừng trong tương lai; tỷ lệ lãi suất chiết khấu cho thu nhập và chi phí.
c 6 Nhìn chung, đây là những kinh nghiệm cần nghiên cứu vận dụng cho phù hợp với điều kiện Việt Nam. Chính sách cho thuê rừng của nước ta cũng cần phải được nghiên cứu đầy đủ các nội dung sau: Mục đích của chính sách thuê rừng hiện tại và tương lai; Các khía cạnh kinh tế của chính sách cho thuê rừng như làm thế nào xác định được giá cho thuê; Các khía cạnh thể chế của việc cho thuê; Các nhân tố xã hội, môi trường; 1.Kinh nghiệm của một số nước cụ thể về thuê rừng a. Thuê rừng ở Nam Phi Chính phủ Nam Phi có nắm giữ một diện tích chủ yếu là đất rừng, với tổng tài sản bao gồm 892.000 ha rừng và đất rừng. Trong diện tích nhà nước nắm giữ, có sự đa dạng rất lớn về rừng và đất rừng bao gồm: rừng trồng thương mại, đất có rừng khác; rừng bản xứ/địa; các diện tích rừng được bảo hộ (bản xứ) một cách hợp pháp; đất trống.
Đất này được sở hữu một phần bởi nhà nước và một phần được nắm giữ bởi đại diện các cộng đồng địa phương; trong đó một số cũng đã có sẵn các quyền sử dụng đất rừng này cho các mục đích khác nhau. Chính phủ Nam phi đang lập kế hoạch để rút lui khỏi sự liên quan trực tiếp trong lĩnh vực lâm nghiệp và hiện tại đang xem xét và cân nhắc các sự lựa chọn để thu hút lĩnh vực tư nhân vào trong sự quản lý nguồn tài nguyên này. Để nắm giữ một số kiểm soát về tài nguyên rừng, Chính phủ Nam phi đang đề xuất cho thuê đất rừng đối với lĩnh vực tư nhân hơn là tư nhân hoá toàn bộ tài sản này (đối với mục đích của tài liệu này, việc cho thuê đã được định nghĩa bởi tác giả bao hàm cả phạm vi/hình ảnh rộng của sự sắp xếp giữa lĩnh vực nhà nước và lĩnh vực tư nhân, bao gồm: các hoạt động cho thuê đất thương mại; các giấy phép khai thác; các chứng chỉ về chuyển nhượng và các c 7 thoả thuận về quản lý rừng). Tài liệu này đã được chuẩn bị để hỗ trợ cho các Nước và Cục Lâm nghiệp Nam Phi (DWAF) đánh giá các phương án của các hợp đồng thuê rừng đó.
Cục này xem xét các phương án thuê rừng khác nhau sẵn có cho chính phủ và soạn thảo các kinh nghiệm từ các quốc gia khác mà có liên quan đến lĩnh vực tư nhân trong việc quản lý rừng sở hữu Nhà nước. Phần 2 và phần 3 của tài liệu này thảo luận các mục tiêu mà các nước khác nhau đã theo đuổi với các chính sách của họ nhằm khuyến khích sự liên quan nhiều hơn của lĩnh vực tư nhân vào trong lĩnh vực lâm nghiệp và các phương án điển hình sẵn có đối với các chính phủ. Phần 4 thảo luận về các khía cạnh kinh tế của thuê rừng chẳng hạn như phương pháp xác định giá trị của các hợp đồng thuê rừng. Phần 5 thảo luận về các khía cạnh về thể chế của việc thuê rừng chẳng hạn phương pháp/cách mà các khoản chi nên được kết cấu và nên được tập hợp, và sự giám sát của sự sắp xếp của việc cho thuê.
Phần cuối cùng trình bày các nhân tố tài chính và kinh tế chủ yếu nên được xem xét khi thiết lập các hoạt động thuê rừng. Các kinh nghiệm về tư nhân hoá tại Vương Quốc Anh và Niu Zê Lân Cả Vương Quốc Anh và New Zealand đã tư nhân hoá phần lớn tài nguyên rừng sở hữu nhà nước của 2 nước này từ cuối những năm 1980. Tuy nhiên, các cách tiếp cận được dùng cho việc tư nhân hoá có sự khác nhau giữa 2 quốc gia này. Trong trường hợp Vương quốc Anh, tư nhân hoá được giới thiệu đầu tiên vào năm 1979, nhưng việc bán rừng sở hữu Nhà nước chỉ bắt đầu vào cuối những năm 1980.
Các khoảnh rừng được lựa chọn kỹ lưỡng để bán là được chọn chủ yếu từ những nơi sự chuyển nhượng (bán) của nó có thể hợp lý hoá sự quản lý của tài sản rừng của Nhà nước này. Tuy nhiên, các mục đích cho các khoản thu nhập từ việc bán rừng và diện tích được bán mỗi năm cũng được thiết lập bởi Chính phủ (150 triệu bảng và 100,000 ha vào năm 2000). Rừng được bán bằng hình thức đấu thầu có sự cạnh tranh hoặc bằng đàm phán, vào tháng 3/1997 Hội đồng/Uỷ ban Lâm nghiệp đã bán 66.000ha c 8 (ngoài tổng số 900.000ha trước khi các cuộc bán đấu giá bắt đầu) và thu về 75 triệu bảng. Loại rừng đã được bán chủ yếu là các diện tích rừng Tùng Bách trồng ở vùng sâu vùng xa hoặc các diện tích rất khó khăn trong việc bảo vệ.
Những diện tích rừng cho lợi ích rất lớn về giá trị phi gỗ không được bán, trừ những năm đầu của những năm 1990, các sự quan tâm được tăng lên về sự thiệt hại của sự tiếp cận mang tính chất công cộng. Để trả lời/giải quyết vấn đề này, Hội đồng Lâm nghiệp đã khởi xướng chính sách nhường cho chính phủ địa phương cơ hội để bước vào ràng buộc mang tính pháp lý các thoả thuận tiếp cận qua các diện tích đã được bán. Việc tư nhân hoá của tài sản rừng sở hữu nhà nước còn lại đã được xem xét vào năm 1994. Tuy nhiên, việc tư nhân hoá toàn bộ này đã bị từ chối/loại bỏ dựa trên các cơ sở/lý do rằng: 1.
Có thể không chắc chắn rằng toàn bộ nguồn tài nguyên này có thể được bán cho một ai với một khối lượng đáng kể; 2. Điều đó có thể rất phức tạp về mặt pháp lý và hành chính và vì vậy rất tốn kém; 3. Sẽ có sự kháng cự một cách đáng kể của công chúng đối với hoạt động đó. Vì vậy, chính sách chuyển nhượng từng bước một vẫn duy trì, với mục đích tương tự như trước đây.
Tuy nhiên, chính sách này đã bị tạm dừng trước đợt tổng tuyển cử vừa qua (03/1997) và nó đã không được tiếp tục lại chính phủ mới của Đảng Lao Động. Tư nhân hoá tại New Zealand đã được thông qua đầu tiên vào tháng 12/1987. Các tài sản của chính phủ đã được bán với mục đích chủ yếu là giảm nợ cho công chúng/công cộng. Các nguyên nhân khác của việc bán tài sản nhà nước cũng đã được đưa ra, bao gồm: 1.
Các Bộ trưởng đó không phải là các người chủ kinh doanh giỏi; 2. Nhằm để tránh/huỷ bỏ những nhu cầu có thể có cho đầu tư của chính phủ trong tương lai; c 9 3.