Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế "Phát triển du lịch sinh thái các tỉnh vùng Duyên hải cực Nam Trung bộ đến năm 2020" được nghiên cứu sinh Đinh Kiệm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Võ Thanh Thu tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Kinh doanh Thương mại (mã số: 62340121), bảo vệ năm 2013.
Về tính cấp thiết, hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên và du lịch sinh thái (DLST) đang trở thành xu hướng vận động của ngành du lịch quốc tế và trong nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu lý luận lẫn thực tiễn về DLST tại Việt Nam thời điểm đó chủ yếu dừng ở mức khái quát, quy mô quốc gia hoặc từng khu bảo tồn riêng lẻ, thiếu tính hệ thống theo vùng lãnh thổ. Đặc biệt, tiểu vùng Duyên hải cực Nam Trung Bộ (DHCNTB) gồm hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận sở hữu nguồn tài nguyên biển đảo và văn hóa đặc trưng nhưng chưa từng có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về phát triển DLST. Việc nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm phát triển mô hình DLST đặc thù biển đảo tại vùng DHCNTB là yêu cầu cấp thiết được tác giả đặt ra.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm ba nội dung chính:
- Nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý thuyết có liên quan về DLST, du lịch sinh thái bền vững, đặc biệt là du lịch sinh thái bền vững đối với vùng bờ biển - hải đảo và các khu vực nhạy cảm về môi trường.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu gồm nhóm giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn tài nguyên nhân văn và nhóm giải pháp tổng hợp phát triển DLST vùng DHCNTB.
- Đề xuất tổ chức quy hoạch phân vùng không gian DLST một cách có hệ thống và khoa học cho hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua bốn nội dung:
- Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về phát triển du lịch bền vững, DLST và DLST biển đảo bền vững.
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển DLST tại một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines), từ đó rút ra bài học thực tiễn để đề xuất giải pháp.
- Tổ chức khảo sát thực tế trên địa bàn vùng DHCNTB nhằm thu thập dữ liệu sơ cấp, đánh giá thực trạng dòng khách du lịch chung và khách DLST, làm rõ các mặt tồn tại trong công tác tổ chức và quản lý.
- Đề xuất hệ thống nhóm giải pháp và xây dựng khung kế hoạch hành động cụ thể cho từng giai đoạn phát triển DLST của vùng.
Về đối tượng nghiên cứu, trọng tâm chính là các hoạt động liên quan đến công tác tổ chức, quản lý và phát triển DLST thuộc chủ thể cung ứng dịch vụ du lịch. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu bổ trợ gồm các doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và dịch vụ, khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế cùng cộng đồng cư dân địa phương.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Giới hạn tại tiểu vùng DHCNTB, bao gồm địa giới hành chính của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (vốn là không gian hành chính của tỉnh Thuận Hải trước đây).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2010; chuỗi dữ liệu kinh tế lượng phục vụ dự báo được thu thập từ năm 1985 đến năm 2012; mục tiêu và giải pháp định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong quá trình xây dựng luận án, tác giả đã tiếp cận hơn 100 tài liệu nghiên cứu chuyên ngành trong và ngoài nước. Các công trình tiêu biểu được tác giả tổng thuật và phân tích bao gồm:
- Các tài liệu nghiên cứu cấp viện: "Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam" và "Nghiên cứu và đề xuất tiêu chí khu DLST Việt Nam" do Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch soạn thảo.
- Công trình học thuật trong nước: "Du lịch sinh thái những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam" do PGS. Phạm Trung Lương chủ biên; "Du lịch sinh thái – Ecotourism" của GS.TSKH. Lê Huy Bá; "Du lịch bền vững" của Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu.
- Công trình học thuật quốc tế: "Ecotourism: Principles, Practices and Policies for Sustainability" của tác giả Megan Epler Wood; "Ecotourism in Malaysia – Is it really sustainable?" của M. Badaruddin; "Ecotourism in Australia - Linking green productivity" của Tsung-Weilai; "Ecotourism in Indonesia" của Ricardo Manurung; tài liệu về DLST tại Philippines của các chuyên gia nghiên cứu bảo tồn biển đảo.
Sau khi tổng hợp, tác giả nêu rõ những ưu điểm và hạn chế của các nghiên cứu đi trước:
- Ưu điểm: Các công trình đã xây dựng được nền tảng lý luận ban đầu, tiếp thu kinh nghiệm nghiên cứu từ thế giới và khối ASEAN; thống kê bước đầu hệ thống tài nguyên thiên nhiên, nhân văn ở quy mô quốc gia và vạch ra định hướng khai thác tại một số vườn quốc gia, khu bảo tồn lớn.
- Tồn tại: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng ở mức độ hàn lâm, khái quát chung cho toàn quốc, chưa thể hiện rõ tính đặc thù vùng miền; số lượng nghiên cứu về DLST văn hóa và DLST cộng đồng còn hạn chế; sản phẩm du lịch đề xuất còn trùng lặp giữa các tour tuyến; nghiên cứu về du lịch biển hầu như chỉ tập trung ở dải ven bờ và mép nước (tắm biển, nghỉ dưỡng), chưa đi sâu vào không gian mặt nước, dưới đáy biển và hải đảo; hoàn toàn chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về phát triển DLST cho tiểu vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Tập trung nghiên cứu phát triển DLST chuyên sâu cho vùng duyên hải có tính chất khô hạn đặc thù gồm Ninh Thuận và Bình Thuận; kết hợp giữa tài nguyên biển đảo và tài nguyên văn hóa Chăm Pa trong một không gian liên vùng thống nhất; khắc phục tình trạng chia cắt quản lý hành chính để thiết kế quy hoạch không gian và sản phẩm DLST hoàn chỉnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các khái niệm nền tảng do các tổ chức quốc tế và cơ quan chuyên môn ban hành:
- Định nghĩa DLST của Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES): "Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện được phúc lợi cho người dân địa phương".
- Định nghĩa DLST của Tổng cục Du lịch Việt Nam: "DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương".
- Khái niệm bổ sung do tác giả luận án đề xuất: Định nghĩa mở rộng DLST thành dạng du lịch tích cực, chú trọng phát triển tình cảm và trách nhiệm của du khách đối với tự nhiên và văn hóa, đồng thời bổ sung định nghĩa chuyên biệt về DLST biển đảo hoạt động trên 3 không gian: (1) Khu vực bờ và mép nước; (2) Khu vực mặt nước và hải đảo; (3) Khu vực dưới mặt nước và đáy biển.
Khung phân tích quy hoạch đới DLST ven bờ và hải đảo được tác giả vận dụng từ lý thuyết của Pearce, Kirk và Wong P., xác định các phân vùng và khả năng tải ưu tiên như sau:
| Không gian DLST |
Môi trường vùng bờ và hải đảo |
Khả năng tải ưu tiên |
| Đới dịch vụ và tiện nghi DLST |
Vùng đất phía trong bờ và đảo |
Khả năng tải kinh tế |
| Đới đệm |
Cồn cát và các đồi đá ven đảo |
Khả năng tải sinh thái |
| Đới hoạt động nghỉ dưỡng, thể thao, khám phá |
Biển |
Khả năng tải sinh thái và tải xã hội |
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp gồm nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính:
- Phân tích thống kê mô tả: Tổng hợp nguồn số liệu thứ cấp từ Tổng cục Du lịch, Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch, Cục Thống kê, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư của Ninh Thuận và Bình Thuận, cùng các báo cáo của UNWTO, TIES, IUCN, UNEP, WTTC.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp 26 chuyên gia là các nhà quản lý du lịch cấp cao của 2 tỉnh, giám đốc doanh nghiệp lữ hành, hiệp hội du lịch để thẩm định bảng câu hỏi điều tra và cho điểm ma trận SWOT; tham vấn ý kiến qua các hội thảo chuyên đề du lịch tổ chức năm 2009 tại Bình Thuận.
- Phương pháp suy diễn quy nạp: Phân tích thực tiễn mô hình tổ chức du lịch của Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines để khái quát hóa thành các bài học tổ chức.
- Phương pháp định lượng:
- Khảo sát điều tra xã hội học: Tiến hành điều tra trực tiếp 883 du khách tại Ninh Thuận và Bình Thuận (gồm 144 khách quốc tế và 739 khách nội địa, chia làm 433 khách tại Bình Thuận và 306 khách tại Ninh Thuận). Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm PASW-SPSS 20.0 để phân tích tần số, phân loại nhóm hành vi, kiểm định nhận thức và mức độ hài lòng của du khách.
- Mô hình kinh tế lượng dự báo chuỗi thời gian: Luận án sử dụng phương pháp san mũ Holt-Winters không có yếu tố mùa vụ (Exponential Smoothing - No Seasonal) trên chuỗi thời gian 28 quan sát giai đoạn 1985–2012 để dự báo lượng khách quốc tế và nội địa đến năm 2020. Mô hình được xử lý trên phần mềm EViews (phiên bản 6.0 và 7.0), thiết lập các phương trình làm trơn giá trị trung bình, phương trình độ dốc xu thế và phương trình dự báo giai đoạn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về phát triển du lịch sinh thái
Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết về du lịch bền vững và DLST. Tác giả phân tích các nguyên tắc vận hành của DLST bền vững, gồm: Khai thác sử dụng tài nguyên gắn liền với bảo tồn đa dạng sinh học và văn hóa; lồng ghép chiến lược du lịch địa phương vào quy hoạch phát triển vùng và quốc gia; chú trọng giáo dục môi trường cho du khách và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng bản địa theo mô hình chia sẻ lợi ích cùng thắng (Win - Win Model).
Về điều kiện phát triển, DLST đòi hỏi phải có hệ sinh thái tự nhiên điển hình, năng lực quản lý giảm thiểu tác động tiêu cực của con người và đáp ứng nhu cầu gia tăng nhận thức của khách tham quan. Tác giả phân loại tài nguyên DLST thành tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn, đồng thời chỉ ra các đặc tính: Giá trị phong phú nhưng nhạy cảm với tác động ngoại cảnh, tính thời vụ và tính chất khai thác tiêu dùng tại chỗ. Chương này cũng phân tích 3 tiêu chuẩn đánh giá phát triển DLST bền vững: Tiêu chuẩn kinh tế, tiêu chuẩn xã hội - con người và tiêu chuẩn môi trường.
Phần kinh nghiệm quốc tế tổng kết thực tiễn từ 4 quốc gia Đông Nam Á:
- Thái Lan: Thành công trong phát triển DLST văn hóa tại vùng sâu, vùng miền núi như Chiang Mai, Chiang Rai, có nét tương đồng với vùng gò đồi, trung du Ninh Thuận - Bình Thuận.
- Indonesia: Xây dựng khu du lịch biển đảo Bali gắn kết giữa quản lý môi trường sinh thái và bảo tồn giá trị văn hóa nhân văn truyền thống.
- Malaysia: Triển khai mô hình Homestay gắn với DLST nông thôn, nâng cao thu nhập cho cư dân bản địa.
- Philippines: Quản lý khai thác DLST rạn san hô biển đảo đi đôi với các quy định bảo tồn đa dạng sinh học nghiêm ngặt.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái vùng Duyên hải cực Nam Trung Bộ
Chương 2 khái quát đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng DHCNTB với tổng diện tích tự nhiên 1.150 nghìn ha (văn bản ghi 1.150 ha/11.500 km2), đặc trưng bởi khí hậu khô hạn, nền nhiệt cao, phân dị địa hình từ núi cao, gò đồi đến đồng bằng ven biển và hải đảo. Nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các hệ sinh thái rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Núi Chúa, Vườn quốc gia Phước Bình (Ninh Thuận), Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, Núi Tà Kou (Bình Thuận), và hệ sinh thái biển đảo tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Câu, đảo Phú Quý. Về tài nguyên nhân văn, vùng lưu giữ đậm nét di sản văn hóa Chăm Pa qua các tháp Chăm (Poklong Giarai, Po Romé, Poshainư), các làng nghề truyền thống (gốm Bàu Trúc, dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp) và hệ thống lễ hội tôn giáo tín ngưỡng.
Về thực trạng kinh doanh du lịch, giai đoạn 1992–2002 tốc độ tăng trưởng bình quân lượng khách quốc tế đạt 15,37%/năm, giai đoạn 2007–2010 đạt 14,82%/năm. Khách nội địa giai đoạn 2001–2009 tăng trưởng bình quân 22,41%/năm, năm 2006 đạt mức tăng cao nhất 31%. Toàn vùng có trên 48 điểm du lịch đang hoạt động, trong đó có 15 điểm khai thác thường xuyên với tần suất cao (Ninh Thuận 6 điểm, Bình Thuận 9 điểm). Các đơn vị lữ hành đã khai thác 16 tuyến du lịch chính, nhưng chỉ có 7 tuyến hoạt động ổn định (5 tuyến biển đảo, 2 tuyến rừng núi).
| Năm |
Toàn vùng DHCNTB (lượt) |
Khách DLST quốc tế (lượt) |
Khách DLST nội địa (lượt) |
| 2005 |
275.191 |
22.327 |
253.864 |
| 2008 |
(dữ liệu chuỗi tăng trưởng) |
(dữ liệu chuỗi tăng trưởng) |
(dữ liệu chuỗi tăng trưởng) |
| 2010 |
835.190 |
(chiếm tỷ trọng tăng) |
(chiếm tỷ trọng tăng) |
| Tốc độ tăng bình quân (%) |
31,89% |
33,10% |
31,79% |
Về thời gian lưu trú và tính mùa vụ, thời gian lưu trú tại Ninh Thuận thấp (khách quốc tế cao nhất 2,48 ngày năm 2010, thấp nhất 1,83 ngày; khách nội địa từ 1,45 đến 1,83 ngày), phản ánh tính chất điểm trung chuyển, vãng lai. Tại Bình Thuận, thời gian lưu trú dài hơn, đạt 3,1 ngày đối với khách quốc tế và 1,92 ngày đối với khách nội địa. Mùa vụ khách nội địa cao điểm vào các tháng hè, giảm mạnh vào tháng 8, 10, 11; khách quốc tế tập trung từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Về tình hình đầu tư, vốn đầu tư phân bổ chênh lệch lớn: Bình Thuận thu hút 376 dự án du lịch với tổng vốn 63.588 tỷ đồng, trong khi Ninh Thuận chỉ có 73 dự án với tổng vốn hơn 7.000 tỷ đồng. Đầu tư cho các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước:
- Tại Ninh Thuận (2001–2010): Tốc độ tăng vốn đầu tư ngân sách hàng năm tại VQG Núi Chúa là 8,05%, VQG Phước Bình là 14,82%, bình quân chung đạt 16,87%/năm, song kinh phí cho bảo tồn đa dạng sinh học gắn với DLST chỉ chiếm 14–20%.
- Tại Bình Thuận (2001–2009): Tổng vốn ngân sách chi cho KBTTN Núi Ông và Tà Kou đạt 20,523 tỷ đồng, nhưng chủ yếu phục vụ chi sự nghiệp quản lý bảo vệ rừng, vốn cho bảo tồn đa dạng sinh học và nghiên cứu khoa học phát triển DLST chỉ chiếm 18,84%.
Kết quả điều tra xã hội học 883 du khách cho thấy:
- Khách quốc tế: Độ tuổi 26–45; học vấn từ cao đẳng trở lên; thu nhập bình quân khoảng 20.000 USD/năm; mức chi tiêu trên 800 USD/chuyến; ưa thích nghỉ dưỡng biển, đi bộ, đạp xe khám phá bản làng, di sản văn hóa; sẵn sàng chi trả thêm chi phí để bảo vệ môi trường.
- Khách nội địa: Độ tuổi 26–35, phần lớn là nam giới; học vấn từ trung học phổ thông đến đại học; thu nhập dưới 30 triệu đồng/năm; mức chi tiêu từ 1–5 triệu đồng/chuyến; động cơ chính là tắm biển, tham quan, bước đầu có nhu cầu tìm hiểu tự nhiên nhưng hoạt động chủ yếu diễn ra ven biển, ít đi sâu vào các vùng thiên nhiên hoang dã.
| Thứ tự xếp hạng |
Điểm du lịch tại Bình Thuận (Khảo sát 433 khách) |
Tỷ lệ đánh giá "Tuyệt vời và đẹp" (%) |
Điểm du lịch tại Ninh Thuận (Khảo sát 306 khách) |
Tỷ lệ đánh giá "Tuyệt vời và đẹp" (%) |
| 1 |
Bãi biển Mũi Né – Hàm Tiến |
19,6% |
Bãi biển Cà Ná và Mũi Đá Chẹt |
30,7% |
| 2 |
Bãi biển Cà Ná |
17,6% |
Vịnh Vĩnh Hy |
24,2% |
| 3 |
Đồi cát Hồng – Mũi Né |
14,5% |
Tháp Chàm Poklong Giarai |
22,2% |
| 4 |
Khu Suối Tiên (Hàm Tiến) |
13,4% |
Vườn quốc gia Núi Chúa |
13,1% |
| 5 |
Đảo Phú Quý |
11,3% |
Đèo Ngoạn Mục và Thác Sakai |
11,1% |
Phân tích ma trận SWOT của vùng chỉ ra:
- Điểm mạnh: Vị trí liền kề vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP.HCM); nguồn tài nguyên nắng ấm, biển xanh, đồi cát đặc thù; các thương hiệu nghỉ dưỡng Mũi Né, Ninh Chữ; văn hóa Chăm Pa đậm nét.
- Điểm yếu: Cơ sở hạ tầng giao thông thiếu sân bay và cảng biển du lịch; thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp về DLST; doanh nghiệp du lịch địa phương quy mô nhỏ; thiếu sự liên kết tour tuyến giữa hai tỉnh do chia cắt hành chính.
- Cơ hội: Sự gia tăng nhu cầu du lịch sinh thái toàn cầu; định hướng hỗ trợ từ các chính sách du lịch quốc gia; dự án đường cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết chuẩn bị triển khai rút ngắn khoảng cách đi lại.
- Thách thức: Sự cạnh tranh từ các điểm đến trong khu vực; nguy cơ ô nhiễm môi trường biển do tiếp giáp mỏ dầu Sư Tử (cách bờ Hàm Tân 50 km) và rủi ro an toàn từ quy hoạch 2 nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận (vùng Phước Dinh và Ninh Hải).
Chương 3: Định hướng chiến lược và một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái vùng Duyên hải cực Nam Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Chương 3 đề xuất định hướng mục tiêu phát triển đến năm 2020: Thu hút khoảng 965.000 lượt khách quốc tế và 6.000 nghìn lượt khách nội địa (tức 6 triệu lượt), trong đó khách DLST đạt khoảng 1.000 nghìn lượt (chiếm tỷ trọng 27% tổng lượng khách). Tổng doanh thu du lịch toàn vùng đạt khoảng 995 triệu USD (tương đương 20.000 tỷ đồng Việt Nam).
Quy hoạch tổ chức không gian DLST toàn vùng được phân định thành 9 tiểu vùng chính:
- Khu vực vùng núi Bắc Thuận Hải (giáp ranh tỉnh Lâm Đồng);
- Vùng ven biển Bắc Thuận Hải;
- Vùng núi và ven biển Phan Rang – Ninh Phước;
- Vùng Vĩnh Hảo – Tuy Phong và vùng núi Bắc Bình;
- Vùng ven biển Bắc Bình – Tuy Phong và Mũi Né – Phan Thiết;
- Vùng núi Hàm Thuận Bắc – Hàm Thuận Nam;
- Vùng ven biển Hàm Thuận Nam và Hàm Tân;
- Vùng Đức Linh – Tánh Linh;
- Vùng biển đảo Phú Quý.
Về phương pháp định lượng dự báo, tác giả sử dụng mô hình Holt-Winters phi tuyến không mùa vụ với tham số tối ưu hóa $\alpha = 0,6$ cho chuỗi khách quốc tế và $\alpha = 1,3$ cho chuỗi khách nội địa. Kết quả dự báo các chỉ tiêu kinh tế du lịch được tổng hợp qua bảng sau:
| Chỉ tiêu dự báo |
Hiện trạng năm 2010 |
Dự báo năm 2015 |
Dự báo năm 2020 |
| Khách du lịch quốc tế (lượt) |
312.209 (văn bản ghi 312.588) |
(tăng theo mô hình) |
965.000 |
| Khách du lịch nội địa (lượt) |
2.868.072 (văn bản ghi 2.731 nghìn) |
(tăng theo mô hình) |
6.000.000 |
| Tổng khách du lịch (lượt) |
3.180.281 |
(tăng theo mô hình) |
6.965.000 |
| Khách DLST quốc tế (lượt) |
69.626 |
(tăng theo mô hình) |
(chiếm 14-18% khách QT) |
| Khách DLST nội địa (lượt) |
765.580 |
(tăng theo mô hình) |
(chiếm 20-25% khách NĐ) |
| Tổng khách DLST (lượt) |
835.206 |
(tăng theo mô hình) |
Khoảng 1.000.000 |
| Doanh thu từ khách quốc tế (triệu USD) |
43 (năm 2011) |
167 |
395 |
| Doanh thu từ khách nội địa (triệu USD) |
132 (năm 2011) |
305 |
600 |
| Tổng doanh thu du lịch (triệu USD) |
175 (năm 2011) |
472 |
995 |
Hệ thống giải pháp phát triển DLST gồm hai nhóm giải pháp lớn bao quát 10 giải pháp thành phần:
- Nhóm giải pháp bảo tồn:
- Bảo vệ hệ sinh thái môi trường biển đảo, rừng đặc dụng, kiểm soát khả năng tải du lịch.
- Bảo tồn và phát huy giá trị tài nguyên nhân văn, di tích tháp Chăm và các lễ hội dân gian.
- Nhóm giải pháp phát triển (gồm 8 giải pháp cụ thể):
3. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch có trình độ chuyên môn và văn hóa bản địa.
4. Phát triển kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật, giao thông kết nối các khu bảo tồn.
5. Phát triển sản phẩm DLST đặc thù, tránh trùng lặp.
6. Tăng cường xúc tiến, quảng bá hoạt động DLST.
7. Phát triển thị trường mục tiêu và xây dựng thương hiệu DLST vùng Panduranga.
8. Thu hút đầu tư và hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi.
9. Mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế.
10. Tăng cường năng lực tổ chức quản lý liên vùng, xóa bỏ rào cản hành chính.
Bốn giải pháp then chốt mang tính quyết định được tác giả xác định là: Bảo vệ hệ sinh thái môi trường; đào tạo nguồn nhân lực; phát triển cơ sở hạ tầng; phát triển sản phẩm DLST. Đồng thời, tác giả đề xuất 3 tuyến du lịch chuyên đề liên tỉnh:
- Tuyến văn hóa bản địa: "Con đường di sản văn hoá Chăm miền Panduranga – 2 tỉnh một điểm đến".
- Tuyến thiên nhiên biển: "Du lịch về với thiên đường mây trắng – biển xanh – nắng vàng – cát đỏ".
- Tuyến khám phá thiên nhiên hoang dã: "Du lịch lên rừng xuống biển khám phá các VQG và KBTTN vùng DHCNTB".
Khung kế hoạch hành động chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn ngắn hạn 2012–2015 tập trung hoàn thiện cơ chế chính sách, lập quy hoạch không gian liên vùng và triển khai các dự án hạ tầng ưu tiên; giai đoạn 2016–2020 mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng dịch vụ và khai thác đồng bộ các sản phẩm DLST biển đảo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn qua các điểm cốt lõi sau:
Về lý luận và học thuật:
- Bổ sung và hoàn thiện khái niệm về DLST, xác định rõ tính tích cực, trách nhiệm với môi trường và lợi ích của cộng đồng địa phương.
- Xây dựng khái niệm chuyên sâu về DLST biển đảo và phân định thành 3 không gian hoạt động cụ thể: Bờ và mép nước; mặt nước và hải đảo; dưới mặt nước và đáy biển.
- Vận dụng lý thuyết địa lý kinh tế du lịch để nghiên cứu phân vùng tài nguyên và tổ chức không gian phát triển DLST trên quy mô một tiểu vùng liên tỉnh (Ninh Thuận và Bình Thuận).
- Đưa mô hình kinh tế lượng phi tuyến Holt-Winters vào ứng dụng thực tế để dự báo lượng du khách chuỗi thời gian cho một vùng lãnh thổ, chứng minh tính ưu việt của mô hình hàm mũ so với các dạng hồi quy tuyến tính giản đơn.
Về thực tiễn và khả năng ứng dụng:
- Đập tan tư duy quản lý du lịch khép kín theo địa giới hành chính cấp tỉnh, đề xuất mô hình liên kết không gian kinh tế - du lịch thống nhất của vùng văn hóa Panduranga trước đây.
- Thiết kế phân vùng chức năng và quy hoạch không gian gồm 9 tiểu vùng DLST, xây dựng mạng lưới hơn 30 tuyến, điểm du lịch liên kết giữa Ninh Thuận và Bình Thuận.
- Đề xuất 3 tuyến sản phẩm du lịch sinh thái chuyên đề đặc thù kết hợp giữa văn hóa Chăm Pa và sinh thái biển rừng, giải quyết tình trạng đứt gãy không gian di sản văn hóa giữa 2 tỉnh.
- Xây dựng khung kế hoạch hành động cụ thể cho hai giai đoạn 2012–2015 và 2016–2020 kèm theo hệ thống kiến nghị đồng bộ với Chính phủ, chính quyền 2 tỉnh, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và cộng đồng dân cư sở tại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên các giới hạn nghiên cứu được nêu trong văn bản, luận án phản ánh một số điểm hạn chế:
- Nguồn số liệu thứ cấp tại các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên còn tản mạn, thiếu đồng bộ giữa các ngành (Lâm nghiệp, Thủy sản, Du lịch) và chưa thống kê tách bạch chi tiết nguồn thu riêng từ hoạt động DLST.
- Phương pháp dự báo lượng khách bằng mô hình Holt-Winters dựa trên chuỗi số liệu quá khứ trong điều kiện bình thường, chưa tính toán hết tác động bất thường từ các rủi ro môi trường tiềm ẩn như sự cố tràn dầu từ mỏ dầu Sư Tử hoặc biến động từ quy hoạch dự án điện hạt nhân tại Ninh Thuận mà văn bản đã cảnh báo trong phần phân tích SWOT.
- Phạm vi nghiên cứu mới chỉ giới hạn trong địa giới hành chính của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, chưa mở rộng nghiên cứu mối liên kết không gian DLST hoàn chỉnh với các trung tâm du lịch phụ cận như Nha Trang (Khánh Hòa), Đà Lạt (Lâm Đồng) và Thành phố Hồ Chí Minh.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý các khu bảo tồn tại Ninh Thuận và Bình Thuận có thể sử dụng các nội dung phân vùng không gian và khung kế hoạch hành động để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch địa phương.
- Doanh nghiệp lữ hành và dịch vụ: Bản thiết kế chi tiết về hơn 30 tour tuyến liên vùng, đặc biệt là 3 tuyến du lịch chuyên đề (văn hóa Panduranga, nghỉ dưỡng biển cát, khám phá VQG biển rừng) cung cấp cơ sở trực tiếp để các doanh nghiệp thiết kế sản phẩm du lịch mới.
- Giảng viên, học viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp khung lý thuyết về phân đới chức năng DLST biển đảo, phương pháp khảo sát đo lường hành vi du khách bằng SPSS và quy trình ứng dụng mô hình chuỗi thời gian Holt-Winters trên phần mềm EViews để xử lý bài toán dự báo kinh tế du lịch.
Câu hỏi thường gặp
1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể của luận án là gì?
Đối tượng nghiên cứu chính là các hoạt động tổ chức và quản lý phát triển du lịch sinh thái (chủ thể cung). Phạm vi không gian thuộc tiểu vùng Duyên hải cực Nam Trung Bộ gồm 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Phạm vi thời gian đánh giá thực trạng từ năm 1995 đến năm 2010, định hướng chiến lược đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
2. Mô hình định lượng nào được tác giả lựa chọn để dự báo lượng du khách và vì sao?
Tác giả lựa chọn mô hình hồi quy phi tuyến dạng san mũ Holt-Winters không mùa vụ thực hiện trên phần mềm EViews với chuỗi số liệu 28 năm (1985–2012). Mô hình này được chọn vì đồ thị biến thiên lượng khách sau năm 1995 có xu hướng tăng tốc phi tuyến dạng hàm mũ, khắc phục sai số lớn của các mô hình hồi quy tuyến tính bậc nhất và bám sát thực tế tốt hơn mô hình bậc hai.
3. Khảo sát thực tế du khách được thực hiện với quy mô mẫu bao nhiêu và kết quả cho thấy đặc điểm gì nổi bật?
Tác giả đã khảo sát 883 du khách (144 khách quốc tế và 739 khách nội địa; gồm 433 mẫu tại Bình Thuận và 306 mẫu tại Ninh Thuận). Kết quả xử lý qua SPSS cho thấy khách quốc tế có mức chi trả cao (trên 800 USD), lưu trú dài ngày (5–10 ngày) và sẵn sàng trả phí bảo vệ môi trường; trong khi khách nội địa chủ yếu ở độ tuổi trẻ (26–35), chi tiêu trung bình (1–5 triệu đồng), thời gian lưu trú ngắn (2–4 ngày) và tập trung phần lớn vào các hoạt động tắm biển ven bờ.
4. Ba tuyến du lịch chuyên đề mới được đề xuất cho hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận là gì?
Ba tuyến du lịch chuyên đề gồm:
- Tuyến văn hóa bản địa: "Con đường di sản văn hoá Chăm miền Panduranga – 2 tỉnh một điểm đến".
- Tuyến thiên nhiên biển: "Du lịch về với thiên đường mây trắng – biển xanh – nắng vàng – cát đỏ".
- Tuyến thiên nhiên hoang dã: "Du lịch lên rừng xuống biển khám phá các VQG và KBTTN vùng DHCNTB".
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Đinh Kiệm đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch sinh thái biển đảo và đánh giá thực trạng khai thác du lịch tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận trong giai đoạn 1995–2010. Thông qua việc kết hợp điều tra xã hội học 883 du khách và áp dụng mô hình kinh tế lượng Holt-Winters trên chuỗi dữ liệu 1985–2012, tác giả đã dự báo quy mô tăng trưởng du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Công trình đề xuất giải pháp xóa bỏ rào cản hành chính cấp tỉnh, quy hoạch không gian thành 9 tiểu vùng và thiết lập 3 tuyến du lịch chuyên đề liên kết vùng Panduranga nhằm thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái bền vững.