Chương 1: Cơ sở lý luận và sự cần thiết của việc thu hút khách du lịch quốc tế đến thành phố Đà Nẵng thông qua loại hình du lịch MICE. - Chương 2: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến thành phố Đà Nẵng thông qua loại hình du lịch MICE giai đoạn 2009-2013. - Chương 3: Định hướng và giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến thành phố Đà Nẵng thông qua loại hình du lịch MICE giai đoạn 2014-2020. Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thảnh khóa luận này, tác giả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và hướng dẫn tận tình của Th.S Trần Quốc Trung.
Tác giả xin gởi đến thầy lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất. Tác giả cũng xin bày tỏ 3 lòng biết ơn đến quý thầy cô giáo trường đại học Ngoại Thương cơ sở 2 thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy những kiến thức thật quý báu và bổ ích. Và cuối cùng, tác giả chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các bên liên quan đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả suốt quá trình thực hiện khóa luận. Do hạn chế về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm cũng như thời gian thực hiện nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế; tác giả rất mong nhận được nhận xét, ý kiến của quý thầy cô giáo và người đọc để bài khóa luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THÔNG QUA LOẠI HÌNH DU LỊCH MICE 2014-2020 1. Cơ sở lý luận về thu hút khách du lịch quốc tế và loại hình du lịch MICE 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm du lịch quốc tế Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ Du lịchdo hoàn cảnh địa lý, thời gian cũng như dưới những góc độ nghiên cứu, cách thức tiếp cận vấn đề khác nhau. Khái niệm về Du lịch trước đây rất hẹp khi cho rằng du lịch là việc con người ra khỏi môi trường sống thường xuyên chỉ với mục đích đi thăm quan hoặc đi vui chơi giải trí. Ngày nay, theo tổ chức du lịch thế giới (WTO), khái niệm du lịch được mở rộng thêm rất nhiều: "Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm".Hay theo hướng dẫn của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), khái niệm khách du lịch nội địa được diễn giải như sau: “Du lịch (Tourism) là các hoạt động của các cá nhân đi tới một nơi ngoài môi trường sống thường xuyên (nơi sinh hoạt hàngngày của mình) trong thời gian không quá 1 năm liên tục với mục đích chính của chuyến đi không liên quan tới hoạt động kiếm tiền nơi họ đến.” Trong tiếng Việt,thuật ngữ này được dịch thông qua tiếng Hán: “Du” có nghĩa là đi chơi, “Lịch” có nghĩa là lịch lãm, từng trải, hiểu biết. Theo khoản 1, Điều 4, Luật Du lịch số 44/2005/QH11 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, định nghĩa du lịch được diễn dãi cụ thể hơn: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.” (Quốc hội 11, 2005, Luật du lịch) Khác với những quan điểm trên, Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam (tái bản năm 2011) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt.
Nghĩa thứ nhất đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi: “Du lịch là một dạng 5 nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật …”Nghĩa thứ hai đứng trên góc độ kinh tế: “Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doah mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.” (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, 2011) Như vậy, hiểu một cách tổng quát, khái niệm Du lịch trong mọi trường hợp đều phải đảm bảo đủ 2 yếu tố: thứ nhất là khách du lịch phải di chuyển ra khỏi môi trường sống thường xuyên của họ để đến một nơi khác, thứ hai là chuyến đi có thể có nhiều mục đích nhưng không nhằm mục đích mưu sinh tại nơi họ đến. Khái niệm khách du lịch quốc tế Theo khoản 2, Điều 4, Luật Du lịch số 44/2005/QH11 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006,“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.Và theo khoản 1,2,3, Điều 34 cùng bộ luât, “Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.” Theo hướng dẫn của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), khái niệm khách du lịch nội địa được diễn giải như sau:“Khách du lịch (Visitors) là các cá nhân khi thực hiện các chuyến đi du lịch như trên được gọi là khách du lịch. Khách du lịch quốc tế (lnbound-outbound visitors) là khách du lịch thực hiện chuyến đi ra khỏi quốc gia mà họ cư trú. Chuyến đi được xác định là lượt xuất - nhập cảnh tại các cửa khẩu quốc tế của quốc gia.
Khách du lịch nội địa (Domestic visitors) là khách du lịch thực hiện chuyến đi trong quốc gia mà họ cư trú. Chuyến đi được xác định từ nơi môi trường sống thường xuyên đến khi trở về nơi xuất phát.” 6 Tóm lại, khái niệm Khách du lịch chính là người thực hiện chuyến du lịch. Còn khái niệm Khách du lịch quốc tế chính là khách du lịch có sự di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia, vùng lãnh thổ nơi họ sinh sống. Khái niệm doanh nghiệp lữ hành Khoản 1, Điều 4, Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 có hiệu lực từ ngày 29/11/2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Và theo khoản 14, Điều 4, Luật Du lịch số 44/2005/QH11 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, “Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch.”Khoản 1, 2, Điều 43 cùng bộ luật: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh lữ hành phải thành lập doanh nghiệp.
Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành bao gồm doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa và doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế.” Như vậy, doanh nghiệp lữ hành là doanh nghiệp xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch. Tổng quan về loại hình du lịch MICE 1. Khái niệm về loại hình du lịch MICE MICE là thuật ngữ viết tắt của 4 từ tiếng anh sau: - Meetings (hội họp): là các cuộc họp nhằm thảo luận một số vấn đề cụ thể giữa các cá nhân hay tổ chức, gồm hội họp đoàn thể (association meetings) và hội họp hợp tác (coporate meetings) - Incentives (khen thưởng): là các cuộc họp nhằm mục khen thưởng, khuyến khích cá nhân hoặc tổ chức (nhân viên, đại lý…) có thành tích xuất sắc, công lao lớn đối với công ty. - Conventions/conferences (hội nghị, hội thảo): là các cuộc hội nghị, hội thảo có quy mô và kinh phí lớn, cần nhiều thời gian chuẩn bị, thường được tổ chức và tham dự bởi các tổ chức quốc tế.
- Events/Exhibitions (sự kiện, triển lãm): là các hội chợ hay triễn lãm quốc tế nhằm quảng bá, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ đồng thời thu hút khách du lịch. 7 Như vậy, MICE là loại hình du lịch kết hợp giữa việc tổ chức các buổi hội họp, khen thưởng, hội nghị, hội thảo, sự kiện, triễn lãm và du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng. Các chương trình du lịch MICE có quy mô khách lớn, mức chi tiêu cao do đó đem lại nguồn doanh thu lớn cho ngành du lịch. Đặc trƣng của loại hình du lịch MICE - Khách du lịch MICE: là các doanh nhân, chính khách, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội…, phần lớn thuộc tầng lớp thượng lưu và có vị trí quan trọng trong các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị.
Do đó, các đoàn khách MICE thường rất đông, sử dụng các dịch vụ cao cấp, yêu cầu cao tương ứng với mức chi tiêu cũng rất cao. Bên cạnh đó mục đích chuyến đi của khách MICE luôn song hành giữa lợi ích kinh tế và hưởng thụ cá nhân. Lợi ích kinh tế chính là những gì đạt được khi tham gia hội nghị, hội thảo, sự kiện như quảng bá thương hiệu, thỏa thuận hợp tác, gắn kết thành viên…Lợi ích cá nhân đạt được như nghỉ dưỡng, tham quan danh lam thắng cảnh, tìm hiểu văn hóa địa phương… - Doanh nghiệp lữ hành: các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ MICE phải có tiềm lực kinh tế vững chắc, có thương hiệu và uy tín, có đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp và các chương trình được thiết kế sáng tạo, đa dạng nhằm thỏa mãn được yêu cầu cao của nhóm khách hàng MICE. - Thời gian tổ chức: công tác chuẩn bịmột chương trình MICE cần rất nhiều thời gian(từ 1 đến 2 năm) trong khi thời gian tổ chức chính thức chỉ khoảng vài tuần.
Do đó, khách hàng thường phải đặt lịch trước một thời gian dài. Tùy theo nhu cầu cũng như điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp khách hàng và khả năng của bên cung ứng dịch vụ, thời gian tổ chức các chương trình MICE sẽ rất đa dạng và hầu như phân bố rải rác trong năm, không có tính mùa vụ. Tuy nhiên, hoạt động MICE thường nhộn nhịp nhất vào khoảng thời gian cuối năm.