phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về làng nghề truyền thống và du lịch làng nghề truyền thống. Chƣơng 2: Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tại các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh. 8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1.
Làng nghề truyền thống - Làng nghề LN, theo quan niệm của tác giả Mai Thế Hởn, là một cụm dân cư sinh sống trong thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng [11, tr. - Làng nghề truyền thống Cũng theo tác giả Mai Thế Hởn, LNTT là những làng có tuyệt đại đa số bộ phận dân số làm nghề cổ truyền. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm.
Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt nhân để phát triển nghề. Cùng với thời gian, các LN thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hóa dân tộc [11, tr. Theo tác giả, để xác định một LN là LNTT thì cần có những tiêu chí sau: + Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở LN đạt từ 50% trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng.
+ Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm. + Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam. + Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Du lịch làng nghề truyền thống Nhìn chung, khái niệm du lịch LNTT vẫn còn khá mới mẻ ở nước ta.
Du lịch LNTT thuộc loại hình du lịch văn hóa đang thu hút sự quan tâm của nhiều du khách trong và ngoài nước. Bởi LNTT là nơi chứa đựng kho tàng kinh nghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống. Đó chính là phần văn hóa phi vật thể. Ngoài ra, LNTT còn có các giá trị văn hóa vật thể như: đình, chùa, các di tích có liên quan trực tiếp đến LN, các sản phẩm thủ công.Trần Nhạn trong “Du lịch và kinh doanh du lịch” thì “du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà khách du lịch muốn thẩm nhận bề dày lịch sử, di tích văn hóa, những phong tục tập quán còn hiện diện… bao gồm hệ thống đình, chùa, lễ hội, các phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, giao tiếp” [20, tr.
Từ đó, ta có thể hiểu du lịch LNTT như sau:du lịch LNTT là loại hình du lịch văn hóa mà du khách muốn thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một LNTT của dân tộc. Nghiên cứu phát triển du lịch LNTT là nhằm chỉ ra những điều kiện và yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch LNTT, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy du lịch LNTT phát triển. Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống 1. Nhu cầu của du khách Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch là nhu cầu (hay còn gọi là động cơ) của du khách.
Thông thường du khách đi du lịch vì các lý do như có kỳ nghỉ, thăm bạn bè người thân, đi tìm hiểu học tập, kinh doanh hay lý do thể thao. Đối với các nhà kinh doanh du lịch, việc nắm được lý do đi du lịch của du khách là vô cùng quan trọng. Có nắm được nhu cầu thì mới có thể đưa ra những sản phẩm có khả thi tiêu thụ nhanh. Động cơ đi du lịch của du khách có thể chia làm các nhóm khác nhau: động cơ đáp ứng nhu cầu tự nhiên như nghỉ ngơi, thể thao và các nhu cầu có liên quan đến sức khỏe con người; các động cơ văn hóa (nguyện vọng của du khách muốn được tìm hiểu, học hỏi về thiên nhiên, nghệ 10 z thuật, tôn giáo truyền thống…của vùng đến du lịch); động cơ giao tiếp (thăm thân, nhu cầu muốn được làm quen.
Các nhân tố tự thân chính làm cho nhu cầu du lịch tăng là thời gian rỗi, thu nhập và trình độ dân trí. Con người không thể đi du lịch nếu không có thời gian rỗi. Do vậy, thời gian rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để có thể tham gia vào hoạt động du lịch. Hiện nay, nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng tăng lên do thời gian rỗi gia tăng khiến cho ngành du lịch cũng từ đó càng thêm phát triển.
Khi đi du lịch, khách du lịch luôn là người tiêu dùng nhiều loại hình dịch vụ và hàng hóa. Để có thể đi du lịch và tiêu dùng du lịch, du khách phải có phương tiện vật chất đầy đủ, nghĩa là họ phải có khả năng thanh toán cho các nhu cầu du lịch. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch thành thực tế. Sự phát triển của du lịch còn phụ thuộc vào trình độ văn hóa của cộng đồng.
Nếu trình độ văn hóa của cộng đồng được nâng cao, nhu cầu đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt [27, tr. Như bất kì các ngành sản xuất, sản xuất của các LNTT phục vụ du lịch cũng phải tuân theo quy luật cung cầu của thị trường. Vì vậy sự phát triển của nó trước hết phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường. Cần khẳng định rằng những sản phẩm thủ công truyền thống dù được yêu mến đến đâu nhưng nếu không có thị trường, không có nhu cầu về sản phẩm đó thì ngành nghề truyền thống cũng như các LNTT không thể phát triển được.
Dân cư thành thị và du khách nói chung là họ có mức sống cao, có “lối sống thành thị”. Do đó họ có nhu cầu du lịch cao và đòi hỏi các dịch vụ hết sức đa dạng. Vì vậy, số lượng dân cư thành thị và du khách không những có ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu thụ những sản phẩm thủ công truyền thống mà còn là nảy sinh và phong phú thêm các dịch vụ khác ở làng nghề. Theo khảo sát thực tế khách du lịch ở một số LNTT trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cho thấy, khách du lịch khi đến với LNTT thường với mục đích là tìm về với các giá trị văn hóa truyền thống: muốn tìm hiểu cách sáng tạo và mua sản phẩm thủ công đặc trưng của mỗi LN, tìm hiểu về các vị tổ nghề, làm quen với các nghệ nhân, muốn được tự tay tham gia vào quá trình sản xuất để được trải nghiệm.
Hay 11 z muốn tìm hiểu những phong tục tập quán, các di tích lịch sử, đền thờ, miếu mạo … của mỗi làng nghề vừa có nét chung của văn hóa dân tộc, vừa có nét riêng độc đáo gắn với quá trình và đặc trưng sản xuất của LN. Ngoài ra, còn có đối tượng du khách đến với LNTT vì mục đích học tập, nghiên cứu do nhu cầu kết hợp học tập lý thuyết với tìm hiểu thực tiễn, học đi đôi với hành. Khách đến LNTT khá đa dạng, nhưng chiếm tỷ lệ cao là du khách từ các tỉnh thành và các trung tâm đô thị phát triển như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Khách thường đến đông hơn vào những ngày cuối tuần, các dịp nghỉ lễ tết hay vào những dịp lễ hội của LN.
Tài nguyên du lịch làng nghề Theo tác giả Nguyễn Minh Tuệ, tài nguyên du lịch được chia làm 2 nhóm là tài nguyên du lịch tự nhiên (bao gồm: địa hình, khí hậu, nguồn nước, động thực vật) và tài nguyên du lịch nhân văn (bao gồm: các di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc, các lễ hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa - thể thao). Đối với hoạt động du lịch, LNTT được xem là một loại tài nguyên du lịch nhân văn. Mỗi LNTT là một môi trường văn hóa, kt - xh và công nghệ truyền thống lâu đời có khả năng thu hút khách du lịch, làm phong phú thêm tài nguyên du lịch, phong phú thêm các hoạt động du lịch để hấp dẫn du khách góp phần vào mục tiêu phát triển chung. Có thể nói rằng, du lịch LNTT sẽ là địa chỉ lý tưởng để du khách tham quan tìm hiểu các giá trị văn hóa, các phong tục tập quán, lễ hội, chiêm ngưỡng và mua sắm những sản phẩm thủ công truyền thống.
Tài nguyên du lịch LNTT bao gồm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống, các di tích lịch sử - văn hóa gắn với hoạt động sản xuất của làng nghề; hệ thống đình, chùa; truyền thống văn hoá, lễ hội, phong tục tập quán của dân cư làng nghề (yếu tố này ảnh hưởng lớn đến tính đặc thù, tính nhân văn của sản phẩm [13, tr. Sản phẩm du lịch của làng nghề được cụ thể hóa thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ theo hướng thỏa mãn nhu cầu của du khách. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của LNTT đều là sản phẩm của phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân. Vì thế các sản phẩm thủ công truyền thống vừa mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc vừa mang tính đặc thù riêng của 12 z mỗi làng nghề.
Tuy nhiên để tăng tính hấp dẫn nhằm thu hút khách du lịch đến với LNTT thì các sản phẩm của làng nghề cần phải phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của du khách về mẫu mã, kích thước, trọng lượng, độ bền, sự an toàn… 1. Nguồn nhân lực Nghệ nhân và đội ngũ thợ làng nghề là yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển du lịch LNTT.