Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên. Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề trường trung cấp nghề số 1 - Bộ Quốc phòng. Chương 3: Đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên của trường Trung cấp nghề số 1 - Bộ Quốc phòng. - Phần kết luận và khuyến nghị.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên 3 http://www.vn CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên Khi đề cập đến phát triển ĐNGV, ngoài sự thống nhất về nội dung các nhiệm vụ với phát triển nguồn nhân lực, thời gian gần đây những nghiên cứu trên thế giới đều dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lượng giáo viên, đề cập việc thúc đẩy phát triển bền vững và thích ứng nhanh của mỗi giáo viên và cả đội ngũ. Trong đó, việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới, dẫn đến nhu càu thay đổi vai trò và phương pháp của người thầy càng trở nên cấp thiết, các hình thức bồi dưỡng giáo viên cũng trở nên đa dạng và phong phú, quan tâm cách thức bồi dưỡng theo mô đun. Kèm theo đó là chính sách giảm giờ dạy trên lớp của GV và coi trọng cơ cấu quan hệ giữa dạy lý thuyết và thực hành [18], [20], [21], [22], [23], [24].
Beerens chủ trương tạo ra một "nền văn hoá" về sự thúc đẩy và học hỏi trong đội ngũ (Creating a Culture of Motivation and Learning), coi đó là giá trị mới của nhà giáo. Beerens cho rằng, tính động trong tăng trưởng và luôn luôn mới là tiêu chí trung tâm của đội ngũ nhà giáo ngày nay [19]. NBPTS (Uỷ ban Quốc gia về các Tiêu chuẩn chuyên môn nhà giáo) được tạo nên từ năm 1987 sau Hội thảo Camegie về nhà giáo cho thế kỷ 21. Sau một thời gian ngắn, NBPTS đã phát hành một bản yêu cầu mang tính nguyên tắc định hướng nghề nghiệp đầu tiên: Thầy giáo cần phải biết và có thể làm gì ? (What teachers Should Know and Be Able to do ?) với 5 vấn đề cốt lõi được hoà trộn là Kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin [8].
Một nghiên cứu tương tự trong công trình chung của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu) đã chỉ ra chất lượng nhà giáo gồm 5 mặt: Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên 4 http://www.vn môn mình dạy; Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được "Kho kiến thức" về PPDH, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê phán, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; Biết thông cảm và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học (theo [14, tr. Nhà giáo phải vừa là nhà chuyên môn, người lãnh đạo (lãnh đạo hoạt động của lớp học và lãnh đạo chuyên môn) cũng được nhấn mạnh trong chuẩn giáo viên của Austrailia (theo dự thảo khung về tiêu chuẩn giáo viên 6/2003) [8], Nhật Bản [10], Hàn Quốc [9, tr.43-45] và nhiều nước khác. Ở Việt Nam, khi đề cập tới các phương pháp tiếp cận phát triển ĐNGV, các tác giả Bùi Văn Quân và Nguyễn Ngọc Cầu [12, tr.44] đã nêu ra ba cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển ĐNGV hiện nay: (1) Tiếp cận quản lý và phát triển nguồn nhân lực theo sơ đồ của Christian Batal [7, tr.254]; (2) Tiếp cận theo phương pháp quản lý, gồm: phương pháp giáo dục, vận động, tuyên truyền; phương pháp hành chính; phương pháp kinh tế; (3) Tiếp cận theo nội dung phát triển ĐNGV. Từ đó, các tác giả khẳng định: Việc lựa chọn cách tiếp cân nào là do ý thức lí luận và kết quả phân tích thực tiễn giáo dục của nhà nghiên cứu hay nhà quản lý quyết định.
Tác giả Lê Đức Ngọc, trong cuốn sách "Giáo dục đại học - Quan điểm và giải pháp" [11], khi đề cập đến vấn đề đổi mới công tác giáo viên để nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường, đã cho rằng: có hai lí do chính làm cho vấn ĐNGV trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà trường. Thứ nhất, trình độ của đội ngũ quyết định chất lượng và khả năng của một trường trong giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ xã hội trong nền kinh tế hàng hoá. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên 5 http://www.vn Thứ hai, chi phí lương và phụ cấp cho đội ngũ này là khoản chi phí lớn nhất của mỗi trường, nó gắn liền với vấn đề chất lượng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo. Từ đó tác giả đề nghị: (1) Cần có một tổ chức để thực hiện việc bồi dưỡng (BD) chuyên môn nghiệp vụ cho GV.
(2) Cần có chính sách tuyển dụng, sàng lọc và đánh giá GV một cách khách quan, thoả đáng. Trong chuyên khảo "Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên", các tác giả Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa, sau khi đề cập những vấn về chung về phẩm chất - năng lực người thầy, nghề thầy trong bối cảnh phát triển mới; cuốn sách đã đề ra các con đường để người thầy tự tìm hiểu nâng cao được phẩm chất, năng lực của bản thân, đáp ứng yêu cầu của nhà giáo trong điều kiện đất nước thực hiện hội nhập và công nghiệp hoá, đưa giáo dục vào sự chuẩn hoá, hiện đại hoá [2]. Nhằm triển khai thực hiện Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư về "Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD giai đoạn2005 - 2010". Viện chiến lược và Chương trình giáo dục đã thực hiện nghiên cứu đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo Việt Nam, làm căn cứ cho các quyết định có liên quan tới đội ngũ nhà giáo.
Bản báo cáo khuyến nghị những khía cạnh cần được đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao năng lực về chuyên môn cho cả ĐNGV: (a) Khả năng sử dụng ngoại ngữ để hỗ trợ cho hoạt động nghề nghiệp; (b) Khả năng gắn kết giảng dạy, NCKH với thực tiễn lao động sản xuất; (c) Khả năng biết ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy; (d) Sự am hiểu về các vấn đề văn hoá, xã hội [17, tr. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên 6 http://www.vn Tóm lại, từ những nội dung đã trình bày trên đây, có thể nhìn nhận: Phát triển ĐNGV với tư cách là nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực đặc biệt là một nội dung quan trọng, cấp thiết, thu hút sự nghiên cứu của nhiều tổ chức và nhà khoa học trong và ngoài nước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu và có những thành tựu quan trọng về vấn đề này. Tuy nhiên, công bằng mà nói, các công trình đó mới chỉ chuyên sâu vào những nội dung nhất định của vấn đề, hoặc các luận văn thạc sĩ, các đề tài khoa học lại gắn với vùng miền cụ thể.
Việc khai thác tổng hợp sơ đồ quản lý nguồn nhân lực và kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, nhằm đồng bộ hoá hệ thống giải pháp phát triển ĐNGV các trường đào tạo nghề hiện vẫn còn bỏ ngỏ. Đó là nội dung chính mà đề tài luận văn sẽ nghiên cứu làm sáng tỏ. Một số khái niệm cơ bản 1. Giáo viên Luật Giáo dục [13, mục 1, điều 69] qui định "Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác".
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, GV là: "Tên gọi chung người làm công tác giảng dạy ở các trường chuyên nghiệp, các lớp đào tạo, các trường trên bậc phổ thông" [16]. Đội ngũ giáo viên Khi nói đến ĐNGV, ta phải hiểu và xem xét trên quan điểm toàn diện và hệ thống. Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bỏi những cơ chế, qui ước nhất định nào đó. Vì vậy, mỗi tác động vào các thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa có ý nghĩa toàn thể.
Nếu xét trên phương diện nguồn nhân lực thì ĐNGV chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực đặc biệt của hệ thống các cơ sở đào tạo nghề nói riêng và giáo dục nghề nghiệp nói chung. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên 7 http://www. Giáo viên dạy nghề và đội ngũ giáo viên dạy nghề * Giáo viên dạy nghề (GVDN) là những thầy giáo, những người làm nhiệm vụ giảng dạy, NCKH và quản lý giáo dục trong các trường đào tạo nghề. * Đội ngũ giáo viên dạy nghề (ĐNGVDN) là tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục nghề nghiệp được tổ chức thành một lực lượng cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho các trường đào tạo nghề.
Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp luật, thể chế xã hội. Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề Phát triển ĐNGVDN là giải pháp của những nhà quản lý nhằm xây dựng ĐNGV đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu. Thuật ngữ "Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề được hiểu là một khái niệm tổng hợp bao gồm cả việc bồi dưỡng ĐNGVDN và phát triển nghề nghiệp cho đội ngũ. Nếu như phạm vi bồi dưỡng bao gồm những gì mà người GVDN cần phải biết và phạm vi phát triển nghề nghiệp bao gồm những gì họ nên biết, thì phát triển ĐNGVDN là bao quát tất cả những gì mà người GVDN có thể trau dồi phát triển để đạt các mục tiêu cơ bản cho bản thân, cho nhà trường.
Đó là con đường để người GVDN phát triển toàn diện nội lực của bản thân, làm cho họ có đủ điều kiện, có khả năng sáng tạo trong việc thực hiện tốt nhất mục tiêu của nhà trường. Vì vậy, quan tâm việc phát triển ĐNGVDN là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển toàn diện của các trường". Phát triển ĐNGVDN chính là tìm cách khuếch trương để đạt hiệu suất cao nhất của 5 yếu tố "phát năng": (1) GD%ĐT để toàn đội ngũ đạt đến sự chuẩn hoá, hiện đại hoá; (2) Thực hiện các chế độ, chính sách tốt nhất đối với giáo viên; (3) Tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, đảm bảo tính hợp lý, tính Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên 8 http://www.