CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Phát triển đội ngũ CBQL trong nhà trường từ lâu đã được đề cập trong các nghiên cứu lí luận và được sử dụng rất sớm trong thực tiễn hoạt động giáo dục ở các nước trên thế giới. Ở Châu Âu, bắt đầu từ thế kỷ XVI, khi đề cập đến các biện pháp chấn hưng giáo dục, người ta đã nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL.
Các nội dung phát triển đội ngũ CBQL, cùng những biện pháp triển khai chúng dần được bổ sung, ngày càng phong phú thêm, những yếu tố chất lượng đội ngũ luôn luôn được nhấn mạnh. Đến những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, khi mà các khái niệm “vốn con người” và “nguồn lực con người” xuất hiện ở Hoa Kỳ và sau đó thịnh hành trên thế giới thì vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục cũng được giải quyết với tư cách là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, nội dung và cách thức giải quyết vấn đề thì có sự khác nhau ở nhiều mức độ và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia và của mỗi giai đoạn lịch sử. Từ năm 1980, nhà xã hội học người Mỹ Leonard Nadler đã đưa ra sơ đồ quản lí nguồn nhân lực để diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ của công tác quản lí nguồn nhân lực.
Theo ông, quản lí nguồn nhân lực gồm 3 nhiệm vụ chính là: - Phát triển nguồn nhân lực (gồm giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); - Sử dụng nguồn nhân lực (gồm tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hóa sức lao động); - Môi trường nguồn nhân lực (gồm mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng quy mô làm việc, phát triển tổ chức) (Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan, 2001). Kết quả nghiên cứu của Leonard Nadler đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng. Christian Batal (Pháp) trong bộ sách “Quản lí nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” (Christian Batal, 2002) cũng đã khai thác theo hướng này và đưa ra một 8 lí thuyết tổng thể về quản lí phát triển nguồn nhân lực. Trong đó, Christian Batal đã sử dụng kết quả nghiên cứu của các khoa học khác (giáo dục học, dự báo, dân số học, toán học.) để đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh của nhiệm vụ quản lí phát triển nguồn nhân lực, bao gồm từ khâu kiểm kê, đánh giá đến nâng cao năng lực, hiệu lực của nguồn nhân lực.
Tại Singapore, SEM – với Mô hình quản lí trường học ưu việt, đề cập đến lãnh đạo nhà trường tài năng với các tiêu chí: “Người lãnh đạo phải nêu gương sáng, có khả năng lãnh đạo, hiểu rõ mục đích, tôn trọng, khuyết khích nhân viên. Một người lãnh đạo lĩnh hội được sứ mệnh của trường học với các mục tiêu cụ thể, năng lực lãnh đạo tốt và sự thông cảm cũng như tôn trọng đồng nghiệp sẽ là động lực cho những người khác noi theo. Với vai trò của mình, hiệu trưởng phải vạch ra một tầm nhìn đối với những thành tích, kết quả dự định đạt được và tạo ra một môi trường học tập lí tưởng cho học sinh và cả giáo viên. Hiệu trưởng cần duy trì liên tục mục đích tăng cường năng lực cho giáo viên để đối mặt với thử thách hiện tại và tương lai, luôn phấn đấu vì sự phát triển để hướng tới nền giáo dục toàn diện cho học sinh và giáo viên” (Nguyễn Lan Hương, 2010).
Trong mô hình này, lãnh đạo nhà trường được xếp vào tiêu chí số một. Khi đề cập đến phát triển đội ngũ CBQL, ngoài sự thống nhất về nội dung các nhiệm vụ với phát triển nguồn nhân lực, thời gian gần đây, các nghiên cứu đều đề cao việc thúc đẩy phát triển bền vững và thích ứng nhanh của mỗi CBQL và của cả đội ngũ. Các nghiên cứu trong nước Trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp Giáo dục, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng về vấn đề phát triển đội ngũ CBQL. Điều đó được thể hiện qua các chủ trương, chính sách, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu biểu là Chỉ thị số 40/CT-TW, ngày 15 ngày 6 tháng 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX Chỉ thị đã nhấn mạnh: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chủ trương nâng cao bản lĩnh chính trị phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lí, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng 9 cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…” (Ban Bí thư Trung ương Đảng, 2004) chính là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo.
Đồng thời, Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 01 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2005 - 2010” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015); Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010 - 2020 cũng đã nói rõ tầm quan trọng của việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục trong sự phát triển của đất nước. Xét ở góc độ nghiên cứu lí luận quản lí giáo dục, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học nước ta tiếp cận quản lí giáo dục để đề cập tới việc phát triển công tác quản lí trường học, trong đó có các tác giả tiêu biểu như Hồ Ngọc Đại, Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm,. Các nhà quản lí giáo dục các cấp cũng đã có nhiều nghiên cứu, đề xuất những giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục. Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2005 – 2010” (Chính phủ, 2005) nhằm triển khai thực hiện chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục.
Đề án đã làm rõ hiện trạng, phân tích các thành tựu, yếu kém và nguyên nhân. Trên cơ sở đó xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và các bước đi để tạo chuyển biến cơ bản và toàn diện trong công tác phát triển nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” (Ban Bí thư Trung ương Đảng, 2004). Nhìn chung, các công trình khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản và tổng quát nhất về quản lí, phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực giáo dục nói riêng. Các công trình nghiên cứu khoa học có đề cập đến đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục thì tập trung nhiều về tiêu chuẩn, yêu cầu của người CBQL trong các trường học và một số ít nghiên cứu về giải pháp phát triển đội ngũ CBQL, trong đó có hiệu trưởng trường THPT.
Các khái niệm cơ bản 1. Trường trung học phổ thông Trường THPT là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, được thành lập theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, có các loại hình: Trường dân lập, trường tư thục, trường công lập. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT đã được quy định cụ thể (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2011). Trường THPT được thành lập theo kế hoạch của các tỉnh nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục.
Trường đóng tại các địa bàn dân cư đáp ứng nhu cầu đi học của học sinh, đồng thời đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho các địa phương. Trường THPT thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục phổ thông; giúp cho học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống. Trường THPT là cấp học cao nhất của giáo dục phổ thông, đặt dưới sự quản lí trực tiếp của Sở Giáo dục và Đào tạo. Nhà trường thực hiện đầy đủ nội dung giáo dục phổ thông, trong bối cảnh đổi mới giáo dục các nội dung phải đảm bảo tính toàn diện, định hướng nghề nghiệp và gắn với thực tiễn đời sống.
Những nội dung đưa vào giảng dạy trong trường THPT phải củng cố, phát triển các nội dung đã học ở THCS và hết 03 năm học sinh hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; đồng thời chương trình học tập phải có những nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh. Đội ngũ cán bộ quản lí trường trung học phổ thông * Cán bộ quản lí Theo từ điển tiếng Việt, “Cán bộ là người làm việc trong cơ quan đoàn thể, đảm nhiệm công tác lãnh đạo, quản lí hoặc một công tác nghiệp vụ chuyên môn nhất định” (Từ điển tiếng Việt, 2005); “Quản lí là chăm nom, sắp đặt công việc trong một tổ chức hoặc phụ trách việc chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức” (Từ điển tiếng Việt, 2005); “CBQL là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” (Từ điển tiếng Việt, 2005). 11 Theo Hồ Văn Vĩnh và nhóm tác giả, “CBQL là các cá nhân thực hiện những chức năng và nhiệm vụ quản lí nhất định của bộ máy quản lí”. Mỗi CBQL nhận trách nhiệm bằng tuyển cử hoặc bổ nhiệm.
CBQL có lãnh đạo, chuyên gia, nhân viên nghiệp vụ. Cán bộ lãnh đạo được chia thành lãnh đạo trực tuyến và lãnh đạo theo chức năng: lãnh đạo trực tuyến là người có vai trò trực tiếp điều hành hoạt động của một tổ chức, đơn vị để hoàn thành những mục tiêu cơ bản; lãnh đạo theo chức năng có nhiệm vụ điều hành hoạt động các khâu chức năng của một hệ thống (Hồ Văn Vĩnh và cộng sự, 2003).