Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ quốc tế cho khách hàng tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng dịch vụ quốc tế tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt. Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển dịch vụ quốc tế tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đến năm 2020. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm và phân loại các dịch vụ quốc tế tại ngân hàng thƣơng mại Khái niệm “dịch vụ ngân hàng” được hiểu là các dịch vụ, sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình (bao gồm cả khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức). Muốn có một khái niệm mang tính học thuật cao, trước hết chúng ta hãy xét đến những yếu tố để phân biệt giữa dịch vụ quốc tế và dịch vụ trong nước của ngân hàng thương mại. Đầu tiên, chúng ta phải xét đến loại hoạt động kinh doanh mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng của họ có tính quốc tế hay không. Điều này được giải thích bởi ba lý do chủ yếu sau: - Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là loại hoạt động trợ giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng thông qua hoạt động tài trợ thương mại quốc tế.
Điều này có nghĩa là nghiệp vụ ngân hàng trong trường hợp này gắn bó chặt chẽ với thương mại quốc tế. - Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là loại hoạt động đáp ứng nhu cầu trao đổi ngoại tệ của khách hàng nhằm thực hiện các giao dịch thương mại và đầu tư qua biên giới quốc gia. - Các ngân hàng hoạt động kinh doanh quốc tế sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc kinh doanh ngoại tệ và họ cũng thường kinh doanh ngoại tệ cho chính số tiền của họ đang có. Thứ hai, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế diễn ra giữa các chủ thể thuộc hai hay nhiều quốc gia khác nhau; còn nghiệp vụ ngân hàng trong nước chỉ diễn ra trong nội bộ quốc gia và đối tượng khách hàng là pháp nhân hoặc thể nhân của quốc gia đó.
Như vậy nếu tiếp cận trên quan điểm là một dịch vụ ngân hàng thì: “Dịch vụ quốc tế” của ngân hàng thương mại là các giao dịch ngân hàng có liên quan đến 6 một hoặc nhiều bên đối tác ở ngoài biên giới nước có trụ sở chính của ngân hàng cung cấp dịch vụ. Với cách tiếp cận khác dựa trên quan điểm dịch vụ quốc tế của ngân hàng là một hình thức kinh doanh quốc tế thì: “Dịch vụ quốc tế của ngân hàng thương mại bao gồm tất cả các dịch vụ tài chính do khách hàng yêu cầu có liên quan đến thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, du lịch quốc tế…, hay nói cách khác, cung ứng dịch vụ quốc tế là việc ngân hàng thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động đầu tư và cung ứng dịch vụ tiền tệ và tài chính quốc tế trên thị trường trong nước và quốc tế nhằm mục đích sinh lời”. Cùng với quá trình phát triển như vũ bão của nền kinh tế toàn cầu, dịch vụ quốc tế của ngân hàng thương mại đã phát triển đa dạng về hình thức cũng như nội dung. Các loại dịch vụ quốc tế do ngân hàng thương mại cung cấp có thể được phân chia thành các loại chủ yếu sau: 1.
Theo nghiệp vụ ngân hàng 1. Dịch vụ thanh toán quốc tế Dịch vụ thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thường được thông qua quan hệ giữa các Ngân hàng của các nước có liên quan. Các phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế bao gồm: - Hối phiếu (Bill of Exchange): là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người kí phát đòi tiền một người khác, yêu cầu người này khi nhận được nó phải trả tiền ngay hoặc thanh toán vào một ngày xác định trong tương lai một số tiền nhất định cho người được chỉ định. Hối phiếu có nhiều loại khác nhau, tuỳ theo các căn cứ khác nhau mà ta có thể chia Hối phiếu thành các loại khác nhau.
Ví dụ căn cứ vào thời hạn của Hối phiếu ta có hai loại hối phiếu: hối phiếu trả tiền ngay và hối phiếu có kỳ hạn, còn nếu căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu ta có: hối phiếu đích danh và hối phiếu vô danh. 7 - Lệnh phiếu (Promissory note): là một tờ cam kết vô điều kiện, trong đó người ký phát cam kết sẽ trả một số tiền nhất định vào một ngày nhất định cho người hưởng lợi được chỉ định trên lệnh phiếu hoặc theo lệnh của người hưởng lợi trả cho người khác. - Séc: là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của chủ tài khoản tiền gửi ra lệnh cho ngân hàng phục vụ mình trích tiền từ tài khoản của mình ở ngân hàng để trả cho người có tên trên tờ séc, hoặc theo lệnh của người ấy, hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản. - Thẻ thanh toán (Payment card): là một phương tiện thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng của mình để sử dụng thanh toán tiền hàng, dịch vụ đã cung ứng.
Nó là phương tiện chủ yếu phục vụ thanh toán cá nhân hay thanh toán không dùng tiền mặt thông dụng trên thế giới, có thể dùng thẻ thanh toán để thay cho việc luân chuyển một phần tiền mặt từ nơi này sang nơi khác ở trong nước và ngoài nước. Thẻ này cũng có thể rút tiền tự động ở các máy rút tiền tự động - ATM (automatic teller machine). Trong quan hệ thanh toán quốc tế, phương thức thanh toán có một vị trí rất quan trọng. Quan hệ thanh toán quốc chỉ có thể được thực hiện thông qua các phương thức thanh toán.
Một số phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu đang được sử dụng trong thương mại quốc tế: Một là chuyển tiền Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó một khách hàng (người trả tiền: người mua, người …) yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho thụ hưởng (người bán, người xuất khẩu…) ở một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định. Các bên tham gia vào nghiệp vụ chuyển tiền gồm có: người chuyển tiền (Remitter) là người nhập khẩu; người thụ hưởng (Beneficiary) là người xuất khẩu; ngân hàng trả tiền (Paying bank) là ngân hàng bên người xuất khẩu; ngân hàng uỷ nhiệm chuyển tiền (Remitting bank) thường là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu. Việc chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai hình thức chủ yếu sau đây: 8 Chuyển tiền bằng điện báo (Telegraphic transfer - T/T): tức là Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách điện ra lệnh cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận. Đây là phương thức chuyển tiền nhanh nhất, an toàn nhất nhưng cũng đắt nhất thông qua mạng lưới liên lạc viễn thông như telex, swift.
Chuyển tiền bằng thư(Mail transfer - M/T): có nghĩa là Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách gửi thư ra lệnh cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận. Phương thức này có chi phí rất thấp tuy nhiên tốc độ lại chậm hơn rất nhiều so với chuyển tiền bằng điện. Trong thực tế phương thức này rất ít được sử dụng vì lợi ích kinh tế của nó sẽ bị giảm sút do thời gian chu chuyển vốn dài. Hai là nhờ thu (Collection) Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người bán – người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng, ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra.
Các bên tham gia phương thức thanh toán nhờ thu gồm có: Người xuất khẩu - Drawer (or Remittance); Người nhập khẩu - Drawee; Ngân hàng chuyển chứng từ - Remitting bank; Ngân hàng thu hộ - Collecting bank. Có hai loại chính là nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu kèm chứng từ. Nhờ thu phiếu trơn: là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ số tiền từ người mua, chỉ căn cứ vào hối phiếu do người bán ký phát, còn chứng từ hàng hoá thì gửi thẳng cho người mua, không qua ngân hàng. Phương thức này có nhược điểm là việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán do vậy không đảm bảo quyền lợi cho người bán vì việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của người mua, tốc độ thanh toán chậm và ngân hàng đơn thuần chỉ đóng vai trò là trung gian thanh toán họ mà thôi.
Mặt khác, khi áp dụng phương thức này phía người mua cũng có bất lợi nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải thanh toán tiền trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không. 9 Phương thức nhờ thu kèm chứng từ: là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá gửi kèm theo với yêu cầu là ngân hàng chỉ trao bộ chứng từ hàng hoá cho người mua để đi nhận hàng khi họ đã thanh toán tiền Có hai loại nhờ thu kèm chứng từ: Nhờ thu trả tiền trao chứng từ (D/P): Theo điều kiện này người mua phải trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho họ. Nhờ thu chấp nhận trả tiền trao chứng từ (D/A): Theo điều kiện này người mua chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng sẽ trao bộ chứng từ gửi hàng cho họ.