Chương I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Dịch vụ phi tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Có nhiều cách thức phân loại dịch vụ của ngân hàng, tuy nhiên có thể khái quát thành dịch vụ tín dụng ngân hàng và dịch vụ phi tín dụng ngân hàng.
Dịch vụ tín dụng ngân hàng: đây là loại dịch vụ thể hiện sự tạm thời chuyển giá trị tài sản từ một người này sang người khác sử dụng trong một khoản thời gian, với yêu cầu là có sự tín nhiệm và đảm bảo rằng người sử dụng tải sản đó phải có khả năng hoàn trả lại một khoản lớn hơn giá trị tài sản đã vay mượn ban đầu (Phan Thị Linh, 2015). Thực tế cho thấy hoạt động tín dụng và cho vay không phải là một hoạt động nhưng rất nhiều nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Theo đó, hoạt động tín dụng phải là một khái niệm rộng hơn nhiều, hay nói cách khác cho vay chỉ một hình thức của tín dụng ngân hàng hay một bộ phận của tín dụng ngân hàng. Chính vì lẽ đó, nội dung tín dụng là rộng hơn nội dung cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng, thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu doanh thu tại các ngân hàng.
Vì vậy, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nghĩa rộng khái quát nêu trên hoặc theo nghĩa hẹp là cho vay. Dịch vụ phi tín dụng ngân hàng: Phan Thị Linh và Lê Quốc Hội (2013) cho rằng đây là nhóm dịch vụ này liên quan đến việc thu phí do các NHTM thực hiện với mục đích cung cấp các dịch vụ cho các tổ chức và cá nhân nhằm mang lại lợi nhuận/ thu nhập cho ngân hàng mà không phải là các dịch vụ tín dụng. DV PTD giúp các ngân hàng giảm thiểu rủi ro vì không phải mất đi giá trị tài sản của ngân hàng cho các tổ chức và cá nhân vay, mượn. Đối với dịch vụ truyền thống của NHTM thì dịch vụ phi tín dụng liên quan hoạt động thanh toán là hoạt động điển hình ở các Ngân hàng, cụ thể là thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không bằng tiền mặt là hai hình thức phổ biến nhất.
Đây cũng 12 là cơ sở để NHTM huy động vốn thông qua hình thức huy động nguồn gửi tiền vào NH với tính tiện ích ngày càng cao. Các dịch vụ phi tín dụng khác của NHTM đều hướng tới mục tiêu là ngày càng nâng cao tính tiện ích của dịch vụ và sử dụng hiệu quả thu nhập của các khách hàng thông qua dịch vụ phi tín dụng. Dịch vụ phi tín dụng có thể diễn ra đồng thời với hoạt động của dịch vụ tín dụng (huy động vốn và cung cấp vốn) của NHTM với mục đích đáp ứng nhu cầu tiền gửi và tiền vay của khách hàng như mong muốn. Ngoài ra, một số dịch vụ tín dụng hoạt động độc lập với hoạt động tín dụng như: Thu hồi tiền tiêu thụ sản phẩm cho khách hàng; Thanh toán chi trả các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất; Chuyển tiền lương qua tài khoản; Chuyển tiền nộp thuế cho khách hàng,… Các đặc điểm giúp phân biệt dịch vụ phi tín dụng có thể dựa vào các yếu tố như sau: Về vốn giao dịch của ngân hàng: Khi khách hàng thực hiện giao dịch với các ngân hàng thì ngân hàng không phải sử dụng đến nguồn vốn (hoặc nếu có thì sử dụng không nhiều nguồn vốn) để thực hiện giao dịch đối với khách hàng.
Về phí giao dịch: Khi khách hàng giao dịch với ngân hàng thì khách hàng phải chi trả một khoản phí khi ngân hàng sẽ thực hiện cung ứng các dịch vụ đối với khách hàng. Như vậy, doanh thu của ngân hàng lúc này được thực hiện dưới dạng thu phí chứ không phải thực hiện dưới dạng thu lãi và trả lãi (lãi suất) như dịch vụ tín dụng. Như vậy, doanh thu thu được từ dịch vụ phi tín dụng cũng khá thấp so với doanh thu từ dịch vụ tín dụng đối với các Ngân hàng thương mại. Từ những phân tích như trên, chúng ta có thể hiểu DV PTD trong ngân hàng thương mại chính là dịch vụ do ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhằm mục đích mang lại doanh thu/loại nhuận ngân hàng thu được chính là từ khoảng phí mà khách hàng bỏ ra để sử dụng dịch vụ phi tín dụng với rủi ro rất thấp.
Trong đó, doanh thu từ dịch vụ phi tín dụng không đáng kể so với doanh thu của dịch vụ tín dụng nhưng dịch vụ này giúp duy trì hoạt động bình thường của ngân hàng. Đặc điểm 13 Theo Nguyễn Thị Qui (2008), dịch vụ phi tín dụng có những đặc điểm riêng biệt so với các loại dịch vụ thông thương khác như: Để cung cấp DV PTD, các ngân hàng thương mại phải đầu tư trang bị cơ sở hạ tầng, công nghệ cũng như nguồn nhân lực để cung cấp các dịch vụ này. Các Ngân hàng thương mại thông thường không sử dụng đến nguồn vốn hoạt động của mình hoặc không sử dụng nhiều vốn trong quá trình cung cấp dịch vụ phi tín dụng đối với khách hàng. Đây là một đặc trưng cơ bản của dịch vụ phi tín dụng mà các ngân hàng cung cấp.
Dịch vụ phi tín dụng của các ngân hàng thương mại được xếp vào những lĩnh vực kinh doanh tương đối an toàn và hầu như không có rủi trong quá trình cung ứng dịch vụ. Vì thế phát triển dịch vụ phi tín dụng sẽ giúp cho các ngân hàng thương mại hạn chế được những rủi ro như rủi ro lãi suất, đặc biệt là rủi ro của hoạt động tín dụng, cho vay. Ngày nay, các loại dịch vụ phi tín dụng rất đa dạng với nhiều loại dịch vụ và các ngân hàng luôn phát triển công nghệ ngành ngân hàng để tạo ra nhiều dịch vụ PTD. Hiện nay, có rất nhiều loại hình dịch vụ phi tín dụng và mỗi loại hình dịch vụ này, các ngân hàng sẽ đa dạng về phương thức phục vụ và công nghệ để cung cấp cho khách hàng có nhu cầu sử dụng.
Ngày nay, khách hàng không cần đến trực tiếp giao dịch tại các ngân hàng thương mại mà có thể giao dịch ở bất cứ đâu qua nhiều ứng dụng khác nhau như: E- Banking, Home Banking… 1. Đối với xã hội và nền kinh tế Theo Phan Thị Cúc (2008), dịch vụ phi tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội và phát triển nền kinh tế. Thứ nhất: dịch vụ phi tín dụng phát triển giúp cho các ngân hàng đứng trước cơ hội hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc liên kết các dịch vụ tài chính. Các ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau có hệ thống các chi nhánh ở nhiều quốc gia, thông qua cung cấp DV PTD, các ngân hàng này có liên kết với nhau mà không có giới hạn 14 về biên giới.
Sự phát triển của công nghệ ngân hàng giúp các ngân hàng trên thế giới cung cấp dịch vụ PTD cũng tương tự nhau nên khả năng liên kết giữa các ngân hàng này là rất cao. Thứ hai: Dịch vụ phi tín dụng giúp quá trình lưu chuyển tiền tệ dễ dàng hơn, ví dụ như việc mở tài khoản và sử dụng dịch vụ thanh toán của ngân hàng thương mại nhiều thì điều này giúp cải thiện việc lưu thông tiền tệ của mỗi quốc gia, giúp các cá nhân, cá thể kinh tế luân chuyển tiền tệ được thông suốt, đảm bảo mang lại nhiều lợi ích kinh tế, thực hiện tốt các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước (Phan Thị Cúc, 2008). Thứ ba: Việc cung cấp các dịch vụ phi tín dụng của nhiều ngân hàng thương mại giúp mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn thông qua các dịch vụ chuyển kiều hối, từ đó giúp việc tăng dự trữ tiền, ngoại tệ cho các nước khác nhau trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa. Thứ tư: Việc cung cấp dịch vụ phi tín dụng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ phát triển hơn.
Thông qua hoạt động dịch vụ phi tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh có thể dễ dàng giao dịch thực hiện các dịch vụ chuyển tiền dễ dàng, nhanh chóng. Thứ năm: DV PTD có vai trò quan trọng thúc đẩy nền kinh tế tri thức, giúp các quốc gia có xu hướng phát triển bền vững hơn. Thông thường, các ngân hàng tiến hành đầu tư công nghệ, thiết bị hiện đại để phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ phi tín dụng. Như vậy, dịch vụ phi tín dụng có ý nghĩa nâng cao trình độ tri thức người dùng (Phan Thị Cúc, 2008).
Thứ sáu: dịch vụ phi tín dụng giúp các ngành dịch vụ khác phát triển theo đối với các ngân hàng cũng như các tổ chức. Thông thường, dịch vụ PTD giúp thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lượng đời sống của người dân, góp phần không nhỏ vào thu nhập của quốc gia. Một số ngành phát triển nhờ sự phát triển của DV PTD gồm: du lịch, viễn thông, hàng không, sản xuất,… Ngoài ra, dịch vụ phi tín dụng còn có vai trò thúc đẩy phát triển dịch vụ của các ngân hàng thương mại. Đối với ngân hàng DV PTD có vai trò giúp các ngân hàng thương mại có thể tạo sự hài lòng khách hàng hơn, nâng cao chất lượng dịch vụ cho khách hàng từ đó giúp ngân hàng phát triển.
Phát triển hoạt động dịch vụ phi tín dụng, các ngân hàng thương mại sẽ thu hút khách hàng mới nhưng vẫn đảm bảo chăm sóc, giữ lại khách hàng cũ từ đó nâng cao hình ảnh vị thế của chính của các ngân hàng thương mại. Theo Đỗ Quang Trị (2018), DV PTD giúp các ngân hàng thương mại đảm bảo về số lượng của khách hàng lớn, từ đó giúp họ có thể tạo ra một thị phần bền vững, các khách hàng sử dụng DV PTD cũng có vai trò giúp phát triển các dịch vụ khác chứ không phải riêng gì DV PTD, từ đó giúp các ngân hàng phát triển bền vững. Bên cạnh đó, DV PTD giúp các ngân hàng thu được phí từ khách hàng sử dụng và phát triển doanh thu bền vững, không có nhiều rủi ro so với các dịch vụ khác. Với đặc thù là khách hàng sử dụng DV PTD đông nên cũng giúp các ngân hàng thương mại giảm thiểu rủi ro về mặt thu nhập trong tổng số các dịch vụ mà ngân hàng mình cung cấp.