Tổng quan nghiên cứu

Trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2000-2008, tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp đã sụt giảm từ 7,9% xuống còn 4,2%. Dân số nông nghiệp giảm còn 106.910 người, chiếm 13,25% tổng dân số toàn thành phố, với lực lượng lao động nông lâm thủy sản đạt 47.000 người trên tổng số 365.130 lao động. Trước bối cảnh diện tích đất canh tác nông nghiệp thu hẹp còn 9.240,37 ha (chỉ chiếm 7,35% tổng diện tích đất tự nhiên), sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân gặp nhiều trở ngại lớn về hiệu quả và thị trường tiêu thụ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt và yếu kém về quy mô lẫn chất lượng dịch vụ tại 25 Hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ nông nghiệp, phân tích thực trạng hoạt động kinh tế của các hợp tác xã giai đoạn 2005-2008, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện dịch vụ đến năm 2015. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm 25 hợp tác xã, trong đó 13 đơn vị tập trung tại huyện Hòa Vang (chiếm 52%) và 12 đơn vị tại các quận Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Cẩm Lệ, Liên Chiểu, Hải Châu. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để nâng cao doanh thu bình quân mỗi hợp tác xã vượt mức 637,04 triệu đồng và lợi nhuận vượt mức 35,53 triệu đồng, bảo đảm thúc đẩy kinh tế tập thể phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế tập thể theo tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW năm 1988 của Bộ Chính trị và Luật Hợp tác xã năm 2003, xác định hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ do nông dân tự nguyện góp vốn nhằm tương trợ sản xuất kinh doanh. Khung lý thuyết tiếp thị và quản trị dịch vụ được áp dụng để phân tích 4 đặc tính cơ bản của dịch vụ nông nghiệp gồm: tính vô hình, tính không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng, tính không ổn định về chất lượng và tính không lưu trữ được. Nội dung phát triển dịch vụ nông nghiệp được cấu thành từ 5 yếu tố chính: cung ứng dịch vụ mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng thị trường, gia tăng số lượng khách hàng và đổi mới phương thức phục vụ. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa các bài học quốc tế: mô hình hợp tác xã dịch vụ tổng hợp tại Indonesia; hệ thống 3.546 hợp tác xã nông nghiệp với 4,95 triệu xã viên tại Thái Lan năm 2000; cùng mô hình liên đoàn hợp tác xã đa chức năng 3 cấp tại Nhật Bản được kiện toàn từ sau năm 1961.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005-2008 và báo cáo tổng kết của Liên minh Hợp tác xã thành phố Đà Nẵng. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi cấu trúc trực tiếp với cỡ mẫu 250 xã viên. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được triển khai tại 5 hợp tác xã đại diện gồm: Hòa Tiến I (50 phiếu, chiếm 20%), Hòa Tiến II (50 phiếu, chiếm 20%), Bắc Mỹ An (50 phiếu, chiếm 20%), Hòa Quý (50 phiếu, chiếm 20%) và Hòa Sơn (50 phiếu, chiếm 20%). Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả kết hợp thang đo đánh giá 3 cấp độ (Tốt = 3 điểm, Trung bình = 2 điểm, Kém = 1 điểm) là nhằm đo lường chính xác mức độ hài lòng của nông dân đối với từng khâu dịch vụ cụ thể (thủy lợi, làm đất, vật tư, bảo vệ thực vật), tạo cơ sở vững chắc cho các đề xuất trong giai đoạn định hướng đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu vốn kinh doanh của các hợp tác xã bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng. Tổng vốn kinh doanh của 25 hợp tác xã đến cuối năm 2008 đạt 33.658 triệu đồng (bình quân 1.346 triệu đồng/đơn vị). Trong đó, vốn cố định chiếm tới 68,10% (22.920 triệu đồng), chủ yếu là trạm bơm và mạng lưới điện đã xuống cấp, trong khi vốn lưu động chỉ đạt 34,87% (11.738 triệu đồng). Nguồn vốn tự có chiếm tới 91,33% (30.740 triệu đồng), trong khi vốn vay ngân hàng chỉ chiếm 10,4% do vướng mắc về tài sản thế chấp. Khoảng 25% số hợp tác xã có tiềm lực tài chính khá, còn lại 75% ở mức trung bình đến rất yếu.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực quản lý và lao động còn nhiều hạn chế. Tổng số lao động của 25 đơn vị là 382 người (bình quân 15 người/đơn vị), gồm 162 lao động thường xuyên (42,4%) và 220 lao động thời vụ (57,6%). Trong ban quản lý, cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng chỉ chiếm 6,12% (12 người), trung cấp chiếm 28,57% (56 người), và sơ cấp chiếm tới 47,96% (94 người). Đối với lao động thời vụ, công nhân có tay nghề chỉ chiếm 13,64% (30 người), còn lại 86,36% (190 người) là lao động phổ thông chưa qua đào tạo.

Thứ ba, danh mục dịch vụ còn nghèo nàn và hiệu quả kinh doanh thấp. Tổng doanh thu năm 2008 của toàn thành phố đạt 15.925,93 triệu đồng, lợi nhuận đạt 888,22 triệu đồng (bình quân mỗi hợp tác xã chỉ đạt 35,53 triệu đồng lợi nhuận/năm). 100% hợp tác xã tham gia cung ứng dịch vụ đầu vào công ích như thủy lợi (phục vụ tưới tiêu 8.000 ha lúa qua 91 công trình đầu mối), làm đất và bảo vệ thực vật. Mức độ cơ giới hóa khâu làm đất và thu hoạch đạt khoảng 60% với 350 máy móc (gồm 232 máy cày và 118 máy gặt). Tuy nhiên, 0% hợp tác xã thực hiện được dịch vụ chế biến, tiêu thụ nông sản và tín dụng nội bộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của thực trạng trên là do tư duy quản lý bao cấp chậm đổi mới, thiếu phương thức tiếp thị năng động và hạn chế về nguồn vốn lưu động. Khi các khâu dịch vụ quan trọng như cung ứng phân bón đòi hỏi phương thức trả chậm linh hoạt, các tư nhân bên ngoài lập tức chiếm lĩnh thị trường nhờ tính cơ động cao hơn.

Dữ liệu phân tích thực trạng có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch giữa vốn cố định (68,10%) và vốn lưu động (34,87%), cùng biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu trình độ cán bộ quản lý (6,12% đại học so với 47,96% sơ cấp). Đồng thời, bảng ma trận tổng hợp kết quả khảo sát chất lượng dịch vụ tại 5 địa bàn nghiên cứu làm nổi bật khoảng cách giữa nhu cầu thực tế của xã viên và năng lực đáp ứng của hợp tác xã. Những bằng chứng thực nghiệm này chỉ ra rằng hợp tác xã không thể phát triển nếu chỉ dừng lại ở các dịch vụ công ích truyền thống.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Phát triển danh mục dịch vụ mới và liên kết chuỗi giá trị: Tổ chức cung ứng các khâu bảo quản, chế biến và bao tiêu nông sản tại các vùng chuyên canh 100 ha rau an toàn và 25 ha hoa chuyên canh. Mục tiêu: Nâng tỷ lệ hợp tác xã tham gia tiêu thụ nông sản từ 0% lên 40% trước năm 2015. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý các hợp tác xã phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đà Nẵng.

  2. Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và nâng cao chất lượng dịch vụ hiện hữu: Đầu tư hiện đại hóa đội ngũ máy nông nghiệp vượt quy mô 350 chiếc hiện có; đẩy mạnh kiên cố hóa 451,6 km kênh mương nội đồng (hiện mới kiên cố hóa được 29 km). Mục tiêu: Đạt tỷ lệ cơ giới hóa 80% và mức độ hài lòng của xã viên về tưới tiêu đạt trên 85% trong giai đoạn 2011-2015. Chủ thể thực hiện: Ban điều hành hợp tác xã và các tổ dịch vụ cơ giới thủy nông.

  3. Đổi mới phương thức phục vụ và chính sách khách hàng: Áp dụng cơ chế thanh toán chậm cuối vụ, linh hoạt giá cước dịch vụ và mở rộng đối tượng phục vụ sang các hộ nông dân ngoài xã viên. Mục tiêu: Tăng doanh thu bình quân mỗi hợp tác xã lên mức 1.000 triệu đồng/năm và tăng số lượng khách hàng thêm 25-30% trước năm 2015. Chủ thể thực hiện: Bộ phận kinh doanh dịch vụ của các hợp tác xã.

  4. Đào tạo nguồn nhân lực và khơi thông vốn tín dụng: Chuẩn hóa chuyên môn cho 162 cán bộ quản lý, nâng tỷ lệ nhân sự quản lý có trình độ đại học/cao đẳng từ 6,12% lên 25% vào năm 2015; phối hợp với các ngân hàng thương mại nới lỏng điều kiện thế chấp để nâng tỷ trọng vốn vay vượt mức 10,4%. Chủ thể thực hiện: Liên minh Hợp tác xã thành phố Đà Nẵng và Ủy ban nhân dân các quận, huyện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban quản trị và Giám đốc 25 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tại Đà Nẵng: Ứng dụng quy trình đánh giá chất lượng dịch vụ và phương pháp định giá dịch vụ thủy nông để gia tăng hiệu quả kinh doanh, hướng tới mục tiêu nâng doanh thu vượt mức 637,04 triệu đồng/năm.

  2. Cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Nông nghiệp, Liên minh Hợp tác xã và Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện: Khai thác cơ sở dữ liệu về 9.240,37 ha đất sản xuất, 91 công trình thủy lợi và hiện trạng 382 lao động để hoạch định chính sách hỗ trợ vốn vay, chuyển giao công nghệ và cơ giới hóa nông nghiệp.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế nông nghiệp: Sử dụng khung lý thuyết quản trị dịch vụ, bộ công cụ khảo sát 250 phiếu thực địa và mô hình so sánh quốc tế (Thái Lan, Nhật Bản) làm tài liệu tham khảo học thuật.

  4. Doanh nghiệp cung ứng vật tư và bao tiêu nông sản: Nắm bắt đặc điểm thị trường của 106.910 cư dân nông thôn Đà Nẵng để thiết lập quan hệ liên doanh, liên kết cung ứng giống, phân bón và thu mua nông sản theo hợp đồng kinh tế ổn định.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao các hợp tác xã nông nghiệp tại Đà Nẵng gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận vốn vay ngân hàng? Tỷ lệ vốn vay tín dụng của 25 hợp tác xã chỉ chiếm 10,4% tổng vốn hoạt động do thiếu tài sản thế chấp độc lập. Phần lớn tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của từng hộ xã viên chứ không thuộc pháp nhân hợp tác xã, khiến 75% đơn vị rơi vào tình trạng thiếu vốn lưu động để mở rộng quy mô.

Nguyên nhân nào khiến dịch vụ tiêu thụ nông sản của hợp tác xã chưa phát huy hiệu quả? Trong thực tế, 100% hợp tác xã mới chỉ tập trung vào các dịch vụ đầu vào bắt buộc, trong khi 0% đơn vị xây dựng được chuỗi bao tiêu đầu ra. Hợp tác xã thiếu kho bảo quản sau thu hoạch và quỹ dự phòng giá, buộc nông dân phải tự bán nông sản thô cho thương lái với giá bấp bênh.

Cơ cấu trình độ của đội ngũ quản lý hợp tác xã ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả kinh doanh? Khảo sát 162 cán bộ quản lý cho thấy trình độ đại học chỉ chiếm 6,12%, trong khi sơ cấp chiếm tới 47,96%. Đội ngũ quản lý phần lớn lớn tuổi, thiếu kiến thức quản trị kinh doanh hiện đại và kỹ năng nghiên cứu thị trường, làm giảm năng lực thích ứng với cơ chế kinh tế mở.

Mức độ cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp tại Đà Nẵng đã đạt được kết quả gì nổi bật? Đến năm 2008, toàn thành phố đã trang bị được 350 máy nông nghiệp (gồm 232 máy cày và 118 máy gặt), nâng tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất và thu hoạch lên khoảng 60%. Dù vậy, trang thiết bị chủ yếu tập trung tại các đơn vị mạnh như Hợp tác xã Hòa Tiến I, Hòa Tiến II.

Mô hình hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản đem lại bài học kinh nghiệm gì cho Đà Nẵng? Nhật Bản thành công nhờ chuyển đổi mô hình từ đơn chức năng sang đa chức năng từ sau năm 1961, tích hợp chặt chẽ dịch vụ tư vấn kỹ thuật, tín dụng nội bộ và tiêu thụ nông sản trên quy mô toàn quốc. Mô hình này giúp tối đa hóa thu nhập cho nông dân với mức phí dịch vụ rất thấp.

Kết luận

  • Tỷ trọng nông nghiệp tại Đà Nẵng giảm còn 4,2% GDP trong quá trình đô thị hóa, đòi hỏi 25 hợp tác xã phải tái cấu trúc toàn diện từ sản xuất thuần túy sang kinh doanh dịch vụ đa năng.
  • Nguồn vốn hoạt động đạt 33.658 triệu đồng nhưng mất cân đối lớn khi vốn cố định chiếm 68,10% và vốn vay chỉ chiếm 10,4%, làm cho 75% hợp tác xã gặp khó khăn về vốn lưu động.
  • Năng lực đội ngũ quản lý còn nhiều bất cập khi có tới 47,96% cán bộ ở trình độ sơ cấp và chỉ 6,12% có bằng đại học, gây trở ngại cho việc đổi mới phương thức phục vụ.
  • Danh mục dịch vụ còn đơn điệu, chủ yếu tập trung vào các khâu đầu vào truyền thống và bỏ trống hoàn toàn khâu chế biến, tiêu thụ nông sản.
  • Kết quả tài chính còn khiêm tốn với doanh thu bình quân 637,04 triệu đồng và lợi nhuận 35,53 triệu đồng/đơn vị/năm, đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới chính sách kinh doanh.

Đóng góp chính của luận văn là đã hệ thống hóa lý luận quản trị dịch vụ nông nghiệp và cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc từ 250 mẫu điều tra thực tế tại Đà Nẵng. Trong lộ trình triển khai đến năm 2015, việc hiện đại hóa 350 máy móc nông nghiệp, kiên cố hóa 451,6 km kênh mương và chuẩn hóa 162 cán bộ quản lý sẽ là những ưu tiên hàng đầu. Ban quản trị các hợp tác xã và các cơ quan quản lý nông nghiệp hãy nhanh chóng áp dụng hệ thống giải pháp này để tạo bước bứt phá mạnh mẽ cho kinh tế hợp tác xã địa phương.