CHƯƠNG 1 N H Ữ N G V Ấ N Đ È L Ý L U Ậ N V Ê P H Á T T R I Ể N D ỊC H v ụ N G Â N H À N G Đ IỆ N T Ử C Ủ A N G Â N H À N G T H Ư Ơ N G M Ạ I 1. TỎNG QUAN VÈ DỊCH v ụ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm sản phẩm ngân hàng điện tử Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử. Có quan niệm cho rằng dịch vụ Ngân hàng điện tử là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại Ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới.
Theo cách hiểu này, dịch vụ Ngân hàng điện tử chính là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch vụ Ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với Ngân hàng. Định nghĩa của Ngân hàng thanh toán quốc tế BIS (1998) cho rằng " E- Banking bao gồm việc cung ứng các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bán lẻ có giá trị nhỏ thông qua các kênh điện tử cũng như các khoản chuyển tiền có giá trị lớn và các dịch vụ ngân hàng bán buôn qua các kênh điện tử”[l] Theo Quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phổi điện tử. Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng sản phẩm, d\cYi vụ ngân hàng cho khách hàng. Như vậy, nhìn chung, chúng ta có thể hiểu E-bankỉng là một loại hình sản phẩm dịch vụ ngân hàng mà khi giao dịch khách hàng không cần đến quây giao dịch để thực hiện, là hình thức kắt hợp của dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông.
Với dịch vụ này, khách hàng có thể tiết kiệm được thời gian, chỉ phỉ, mà vẫn đảm bảo tỉnh an toàn, bảo mật; còn ngân hàng có thể thu hút thêm khách hàng, góp phần tăng doanh thu. [6] Thực tế, tùy theo quan điểm khác nhau e- banking có thể vừa được xem là 6 một sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, vừa được xem là một kênh phân phối. Trong các bài viết học thuật của các tác giả nước ngoài, e-banking service hay e-banking channel cũng dùng thay thế lẫn nhau. Nhóm nghiên cứu cũng thống nhất có thể xem e-banking là sản phẩm, cũng có thể là kênh phân phối Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thống nhất thuật ngữ "sản phẩm ngân hàng điện tử" khi nói về khái niệm e-banking.
Hiện nay, E-banking tồn tại dưới hai hình thức: hình thức ngân hàng trực tuyển, chỉ tồn tại dựa trên môi trường mạng Internet, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường mạng; và mô hình kết họp giữa mô hình ngân hàng truyền thống và điện tử hoá các giao dịch, tức là phân phối những sản phẩm dịch vụ trên những kênh phân phối mới (Phone, ATM, POS. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử E-banking được thực hiện trên nền tảng sự phát triển của công nghệ thông tin. Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệ giúp cho khách hàng có thể sử dụng các dịch vụ ngân hàng cung cấp mà không phải trực tiếp đến tận nơi giao dịch của ngân hàng. Nhờ vậy, các dịch vụ này có thể xóa nhòa ranh giới địa lý, rút ngắn các khoảng cách về không gian và thời gian, cung cấp dịch vụ đến mọi nơi được'kết nối thông tin với ngân hàng, về cơ bản, dịch vụ ngân hàng điện tử bao gồm những đặc điểm sau [1] [2]: - Là dịch vụ chỉ các ngân hàng với những ưu thế của nó mới có thể thực hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ.
Các ưu thế của NHTM là mạng lưới chi nhánh rộng khắp; có quan hệ với nhiều công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh doanh.; có trang bị hệ thống thông tin hiện đại. - Các dịch vụ ngân hàng điện tử gắn liền với hoạt động ngân hàng, nó cho phép NHTM thực hiện tốt các yêu cầu của khách hàng, đồng thời hồ trợ tích cực cho chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán. - Tính không hiện hữu: Nó không tồn tại dưới dạng vật thể, nó là kết quả của một quá trình chứ không phải một cái gì đó cụ thể có thể nhìn thấy, đếm tích trữ hay thử trước khi tiêu dùng. Tuy nhiên, nó cũng được biểu hiện thông qua một yếu tố vật chất nào đó, đó 7 chính là phương tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng như thái độ và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên giao dịch, thời gian xử lý giao dịch,.
- Tính không thể tách biệt: Việc tiêu dùng dịch vụ ngân hàng điện tử diễn ra cùng một lúc với quá trình cung ứng dịch vụ, có sự tham gia trực tiếp giữa khách hàng ở bất kỳ thời điểm nào khi khách hàng cần tới. Do đó, đảm bảo cung ứng dịch vụ ngân hàng ở mọi thời điểm và xem trọng yếu tố khách hàng trong hoạt động kinh doanh là tối quan trọng. Kết quả của dịch vụ đều chịu ảnh hưởng từ hai phía: ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, để đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng, ngân hàng không chỉ quan tâm tới việc đảm bảo khả năng về kỹ thuật của ngân hàng cung ứng dịch vụ, huấn luyện nhân viên trong cách phục vụ, thao tác nghiệp vụ mà còn phải hướng dẫn khách hàng hiểu rõ tính phức tạp của dịch vụ và có thái độ sẵn sàng phối hợp với cán bộ ngân hàng hoàn tất quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ.
- Tính không lưu trữ được: Dịch vụ ngân hàng điện tử không thể sản xuất sẵn và lưu kho như các loại sản phẩm thông thường khác. Do đó, một dịch vụ ngân hàng không được cung ứng đúng thời điểm sẽ là một dịch vụ hỏng. Đó là lý do tại sao cần phải điều chỉnh đúng nhịp độ cung ứng theo kịp nhịp độ mua như: rút ngắn quá trình xử lý nghiệp vụ, trang bị máy móc thiết bị hiện đại để rút ngắn thời gian thực hiện giao dịch, tăng cường nhân viên cung ứng, kéo dài thời gian cung ứng,. Hoạt động dịch vụ ngân hàng điện tử đòi hỏi ngân hàng phải có cơ sở hạ tầng tương ứng.
Các NHTM sẽ không thể triển khai hoạt động dịch vụ ngân hàng điện tử nếu cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu. Hoạt động này gắn liền với sự phát triển của công nghệ hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng. Như vậy, dịch vụ ngân hàng điện tử trước hết mang những đặc điểm chung của hoạt động dịch vụ như vô hình (phi vật chất). Tính vô hình là đặc điểm để phân biệt sản phẩm dịch vụ với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chật khác trong nền kinh tế.
Vì là vô hình nên sản xuất và cung ứng diễn ra đồng thời, nhưng lại không thể sản xuất hàng loạt và lưu trữ trong kho để sau đó tiêu thụ. Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng điện tử còn có những đặc điểm sau: - Hoạt động dịch vụ không đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải sử dụng 8 nguồn vốn của mình: Đây là một thuận lợi lớn cho các NHTM có vốn tự có hạn hẹp như các NHTM Việt Nam hiện nay. Do đó, việc mở rộng và phát triển các hoạt động dịch vụ trở thành vấn đề rất cần các NHTM quan tâm và triển khai nhanh chóng. - Hàm lượng công nghệ cao: Dịch vụ ngân hàng điện tử là những dịch vụ mới ra đời khi khoa học công nghệ thông tin bắt đầu phát triển.
Do vậy, dịch vụ này chứa đựng hàm lượng công nghệ cao, nên đòi hỏi phải có sự phát triển của công nghệ thông tin một cách tương ứng. cần phải có máy móc thiết bị hiện đại hồ trợ, giảm bớt lao động thử công. - Tính rủi ro thấp: Do dịch vụ ngân hàng điện tử đa dạng, nên phân tán được rủi ro, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Chính vì vậy, phát triển hoạt động dịch vụ sẽ giúp các ngân hàng hạn chế được những rủi ro như rủi ro lãi suất, đặc biệt rủi ro do tính chất thông tin bất cân xứng của thị trường tài chính đem lại.
- Tính tập trung hóa cao: Dịch vụ ngân hàng điện tử có tính tập trung hóa cao thể hiện ở việc tập trung hóa các tài khoản. Để sử dụng được nhiều dịch vụ ngân hàng, khách hàng chỉ phải mở một tài khoản tại ngân hàng. Việc này giúp khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử một cách tiện lợi, có thể giao dịch tại nhiềú điểm khác nhau, giảm thời gian và chi phí giao dịch. - Tính hỗ trợ cao, có mối liên kết chặt chẽ với nhau: Sự ra đời và phát triến của dịch vụ này sẽ làm tiền đề cho sự ra đời và phát triển của dịch vụ khác.
Nhờ đó, sẽ tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các dịch vụ trong sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử. Ngân hàng có thể cung ứng những dịch vụ trọn gói cho khách hàng. Các dịch vụ ngân hàng điện tử chủ yếu Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trong những năm gần đây đã ảnh hưởng khá rõ nét đến sự phát triển của công nghệ ngân hàng. Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, dịch vụ ngân hàng điện tử đã phát triển khá phố biến, đa dạng về loại hình sản phẩm và dịch vụ.
Nhìn chung, các dịch vụ ngân hàng điện tử bao gồm các loại sau [1] [22]: - Call centre : Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại 9 bất kỳ chi nhánh nào vẫn gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được cung cấp mọi thông tin chung và thông tin cá nhân. Khác với Phone banking chỉ cung cấp các loại thông tin lập trình sẵn, Call centre có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng. Nhược điểm của Call centre là phải có người trực 24/24 giờ. - Phone banking: Đây là loại dịch vụ cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động.