CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG DÀNH CHO KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về dịch vụ ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng thương mại Will Rogers- một nhà văn hài hước người Mỹ đã từng nói rằng ngân hàng cùng với tiền tệ là một trong những phát minh vĩ đại của loài người, bên cạnh các phát minh ra lửa và bánh xe. Lửa có tác dụng tránh thú dữ, sưởi ấm, nấu chín thức ăn; vì vậy lửa chính là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất giúp con người sống sót và phủ kín Trái đất như ngày hôm nay. Còn bánh xe đi liền với câu thành ngữ “No need to reinvent the wheel” – không cần tái phát minh ra bánh xe nói lên giải pháp luôn tồn tại song hành cùng với rắc rối đồng thời đề cập đến vai trò của bánh xe. Vì vậy hàm ý sâu xa của câu nói này cho thấy ngân hàng có vai trò quan trọng như thế nào trong lịch sử loài người.
Ngày nay, sự phát triển của các ngân hàng thương mại cùng với các dịch vụ ngân hàng thương mại chính là minh chứng rất thuyết phục cho vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế. Bản thân ngân hàng thương mại cũng là một dạng kinh doanh ngoại tệ, thu phí của khách hàng, được xếp vào nhóm ngành dịch vụ tài chính. Hoạt động ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể, nhưng thông qua việc đáp ứng các nhu cầu về tiền tệ, về vốn, về thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ cho nền kinh tế. Câu hỏi đặt ra là: “Vậy dịch vụ ngân hàng là gì?”.
Khái niệm về dịch vụ trước nay đã là khái niệm hết sức phức tạp, khái niệm về dịch vụ ngân hàng lại càng phức tạp hơn bởi tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Theo giác độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng thì DVNH là tập hợp những đặc điểm, tính năng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định của 12 khách hàng trên thị trường tài chính. Theo đó DVNH được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu đầu tư, kinh doanh, tiết kiệm, cất trữ tài sản…và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Theo WTO, DVNH nằm trong dịch vụ tài chính là ngành thứ 7/12 ngành dịch vụ.
DVNH bao gồm: (1) nhận tiền gửi và các khoản phải trả từ công chúng; (2) các loại hình cho vay (bao gồm cả vay tiêu dùng, tín dụng có thế chấp…) và cam kết bảo lãnh; (3) dịch vụ cho thuê tài chính; (4) môi giới tiền tệ; (5) quản lý tài sản; (6) các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính, bao gồm: chứng khoán, các sản phẩm phái sinh, và các công cụ chuyển nhượng khác; (7) cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như cung cấp các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác; (8) các dịch vụ tư vấn và trung gian môi giới, các dịch vụ tài chính phụ trợ khác, kể cả tham khảo và phân tích tín dụng, nghiên cứu tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn hoạch định chiến lược doanh nghiệp. Theo Luật TCTD 2010 sửa đổi, không chỉ ra khái niệm về DVNH, nhưng có đề cập hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.Có thể cho rằng DVNH ở đây là trùng với hoạt động ngân hàng, với việc thực hiện các nghiệp vụ về vốn, tiền tệ và thanh toán. Từ những khái niệm trên, ta có thể đưa ra khái niệm tổng hợp về DVNH như sau: DVNH là một bộ phận của dịch vụ tài chính, bao gồm các dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, được ngân hàng thực hiện nhằm tìm kiếm lợi nhuận, và chỉ có các ngân hàng với ưu thế về mạng lưới chi nhánh bao phủ rộng khắp, trang bị công nghệ thông tin hiện đại, nắm bắt nhanh nhạy các thông tin về tài chính, về khách hàng mới có thể cung cấp các dịch vụ này một cách tốt nhất cho khách hàng.2 Đặc điểm dịch vụ ngân hàng thương mại Thứ nhất, sản phẩm của dịch vụ ngân hàng là vô hình nên khó xác định 13 Khác với hàng hóa thông thường, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất hay vật phẩm cụ thể, người ta không thể nhìn thấy, sờ thấy hay nếm thử đối với dịch vụ. Chính vì vậy các công tác lượng hóa, thống kê, đánh giá chất lượng và quy mô cung cấp dịch vụ trở nên khó khăn hơn rất nhiều so với hàng hóa.
Bên cạnh đó, vì không tồn tại dưới dạng vật chất nên sẽ không xác lập được quyền sở hữu trên dịch vụ. Bởi vậy, trong quan hệ mua-bán dịch vụ sẽ không có việc chuyển giao quyền sở hữu dịch vụ từ người bán sang người mua như quan hệ mua bán hàng hóa. Chủ thể của quan hệ dịch vụ có một số khác biệt so với trong quan hệ hàng hóa. Đó là trong quan hệ dịch vụ, chủ thể không quan tâm đến lợi ích sỡ hữu dịch vụ, không định đoạt dịch vụ mà chỉ quan tâm tới quyền sử dụng và chất lượng dịch vụ.
Tuy vậy, tính vô hình của dịch vụ lại có nhiều cấp độ khác nhau. Không phải tất cả các dịch vụ đều hoàn toàn có tính vô hình vì cho dù dịch vụ là sự thi hành, thực hiện nhưng hầu hết các dịch vụ đều được hỗ trợ bởi những vật thể hữu hình và những vật thể hữu hình đó được gọi là dấu hiệu vật chất của dịch vụ. Nhiều DVNH chứa đựng một số yếu tố hữu hình cho phép người ta dựa vào đó có thể phán đoán được dịch vụ như: Để đánh giá dịch vụ thẻ của một ngân hàng người ta có thể dựa vào số lượng máy ATM của ngân hàng đó để đưa ra nhận định về dịch vụ thẻ của ngân hàng này. Đương nhiên, nếu chỉ dựa vào yếu tố duy nhất là số lượng máy ATM thôi chưa đủ nhưng đó cũng là một trong những cơ sở để khách hàng nhận định về chất lượng dịch vụ thẻ của ngân hàng Thứ hai, quá trình sản xuất và tiêu dùng mang tính không tách rời Xét dưới góc độ kinh tế, tính không tách rời được hiểu là việc sản xuất, cung ứng, lưu thông, tiêu dùng dịch vụ là một quá trình liên hoàn, không có độ trễ về mặt thời gian giữa các công đoạn, hay nói cách khác, quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời.
Với đặc trưng này, dịch vụ khác hàng hóa ở chỗ sản xuất hàng hóa tách khỏi lưu thông và tiêu dùng nên khi được sản xuất ra, hàng hóa có thể được lưu kho bãi và không nhất thiết phải tham gia ngay vào quá trình lưu thông, tiêu dùng. Sau quá trình tiêu dùng dịch vụ, các giá trị và giá trị sử dụng của dịch vụ được chuyển tải vào các giá trị vật chất khác, còn bản thân dịch vụ không tồn tại. 14 Do đó DVNH trở thành một hành động xảy ra cùng lúc với hợp tác giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp- ngân hàng và định chế tài chính. Các DVNH được bán rồi mới được sản xuất và tiêu dùng.
Ví như dịch vụ thẻ tại một ngân hàng: khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ thẻ tức là ngân hàng thực hiện việc bán dịch vụ thẻ cho khách hàng rồi mới thực hiện làm thẻ và khách hàng mới sử dụng thẻ. Thứ ba, chất lượng dịch vụ không đồng nhất, khó tiêu chuẩn hóa Các chủ thể tham gia quan hệ mua bán thỏa thuận với nhau để thực hiện một dịch vụ nào đó. Thước đo để đánh giá chất lượng của công việc phụ thuộc vào mức độ “hài lòng” của bên yêu cầu dịch vụ và quá trình thực hiện công việc của ngân hàng. Phía ngân hàng đôi khi cũng không thể tạo ra được những dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau.
Bên cạnh đó, khách hàng khác nhau cũng có những cảm nhận khác nhau. Bởi vậy, chất lượng dịch vụ dao động trong một khoảng rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ và do đó có tính không đồng nhất trong sản xuất và tiêu dùng DVNH. Đặc trưng về tính không đồng nhất trong sản xuất và tiêu dùng đã dẫn đến sự không ổn định trong chất lượng của DVNH. Cộng thêm sự thường xuyên thay đổi của các yếu tố cấu thành chất lượng DVNH như uy tín, thương hiệu, công nghệ và trình độ cán bộ của ngân hàng… Vì vậy, chất lượng DVNH càng trở nên khó xác định, khó tiêu chuẩn hóa.
Thứ tư, dịch vụ ngân hàng có sự tương tác liên tục với khách hàng DVNH có khả năng cung cấp cho ngân hàng những thông tin quý giá về khách hàng do có sự tương tác liên tục với khách hàng ngay cả khi khách hàng có sự ngắt quãng, đứt đoạn trong quá trình sử dụng DVNH. Các thông tin thu thập được 15hem quan đến sở thích, nhu cầu, yêu cầu về sau của khách hàng sẽ là căn cứ để ngân hàng có những điều chỉnh thích hợp trong việc cung cấp DVNH- bổ sung, thay đổi, hoàn thiện hoặc phát triển thêm sản phẩm mới. Thứ năm, dịch vụ ngân hàng luôn phát triển đa dạng, phong phú Với sự xuất hiện của hàng chục, hàng trăm loại DVNH khác nhau trên thế giới, các ngân hàng đều luôn cố gắng phát triển theo hướng kinh doanh đa năng. 15 Điều này thể hiện ở sự đa dạng hóa các hình thức cung cấp, sự gia tăng hàm lượng công nghệ thông tin trong các sản phẩm dịch vụ từ truyền thống đến hiện đại để không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ.3 Phân loại dịch vụ ngân hàng thương mại Căn cứ vào cách thức cung cấp dịch vụ, ta có thể chia thành loại Dịch vụ ngân hàng bán buôn là cách thức ngân hàng tập trung cung cấp một vài sản phẩm cho khách hàng, tuy số lượng sản phẩm không lớn nhưng giá trị sản phẩm rất lớn.
Đối tượng khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp, công ty lớn, các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cách thức ngân hàng đa dạng hóa các sản phẩm, tuy giá trị sản phẩm không lớn nhưng số lượng khách hàng rất lớn.