phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng nhƣ sau: 5 Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chủ đề nghiên cứu của luận văn Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu tại Singapore, Nhật Bản.
Phát triển dịch vụ logistics trong giao nhận, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam và bài học kinh nghiệm quốc tế.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu, thị trƣờng toàn cầu ngày càng trở nên nhạy cảm với những vấn đề về thời gian, cạnh tranh về giá cả, chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ. Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và những yêu cầu khắt khe trong các khâu quản lý nguồn nguyên liệu cũng nhƣ các bộ phận cấu thành sản phẩm đã vô hình chung trở thành một yếu tố thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và đòi hỏi sự thay đổi, cải tiến không ngừng của hoạt động logistics. Cụ thể hơn, hoạt động sản xuất vật chất của xã hội đạt đƣợc năng suất lao động cao nhờ áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến, đặc biệt là những thành tựu mới trong công nghệ thông tin và công nghệ sản xuất.
Song để có thể tối ƣu hóa quá trình sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trƣờng thì hệ thống quản lý, phân phối vật chất nhằm giảm tới mức thấp nhất thiệt hại do tồn kho, ứ đọng nguyên liệu, bán thành phẩm và thậm chí là thành phẩm trong quá trình sản xuất và lƣu thông cần đƣợc hoàn thiện và chú trọng. Chính bởi vai trò quan trọng nhƣ vậy của hệ thống logistics trong nội bộ doanh nghiệp (xét ở tầm vi mô) và trong nền kinh tế quốc gia cũng nhƣ nền kinh tế toàn cầu (xét ở tầm vĩ mô) nên hiện nay có nhiều tác giả đã đóng góp to lớn cho lĩnh vực nghiên cứu này bằng các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học với hàm lƣợng kiến thức chuyên sâu và các giải pháp thực tiễn có thể áp dụng. Lambert và các cộng sự (1988) trong công trình nghiên cứu “Fundermental of Logistics Management” đã trình bày những vấn đề lý luận nền tảng của quản trị logistics trong doanh nghiệp. Cụ thể nhóm tác giả đã đƣa ra khái niệm logistics, các khâu hoạt động của logistics liên quan đến dịch vụ khách 7 hàng, mua sắm, gia công, quản lý tồn kho, đóng gói, vận chuyển của doanh nghiệp.
Ngoài ra tác giả còn đề cập đến vấn đề logistics toàn cầu khi doanh nghiệp thâm nhập thị trƣờng nƣớc ngoài, các vấn đề liên quan đến vận tải, tài chính, chiến lƣợc, xây dựng, quản lý hệ thống thông tin và tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động logistics.Đây là nghiên cứu đóng góp đƣợc những vấn đề cơ bản và khái quát nhất liên quan đến quản trị logistics của doanh nghiệp. Wood và các cộng sự (1995) đã công bố công trình “International Logistics” nghiên cứu về logistics quốc tế liên quan đến dịch chuyển hàng hóa giữa các bên ở hai hay nhiều quốc gia. Trong bài nghiên cứu nhóm tác giả đã phân tích lợi ích của chính phủ trong thƣơng mại và vận tải quốc tế, đƣa ra những lƣu ý về sự khác biệt giữa các quốc gia trong logistics quốc tế, bao gồm sự khác biệt về cách thức quản lý, về thủ tục hải quan, về giá trị hàng hóa… Bên cạnh đó bài nghiên cứu cũng xét đến góc độ vi mô khi đề cập đến các vấn đề liên quan đến hoạt động logistics quốc tế của doanh nghiệp: vận tải quốc tế, điều khoản thanh toán quốc tế, điều kiện bán và giao hàng, các kênh phân phối hàng hóa và dịch vụ. [18] Tác giả Đoàn Thị Hồng Vân (2010) trong nghiên cứu những vấn đề cơ bản của logistics đã giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản về logistics bao gồm: khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của logistics, phân loại logistics, kinh nghiệm phát triển logistics của một số quốc gia trên thế giới… Tác giả cũng đã làm rõ các nội dung của quản trị logistics, bắt đầu từ khái niệm, các nội dung về quản trị logistics gồm hệ thống thông tin, quản trị dự trữ, quản trị vật tƣ nguyên liệu, quản lý khi bãi, vận tải, dịch vụ khách hàng.
[14] Dựa trên mô hình SWOT, bài nghiên cứu tổng thể với tiêu đề “Developing Singapore into a Global Integrated logistics Hub” của hội đồng nghiên cứu kinh tế Singapore ERC năm 2002 đã phân tích thực trạng dịch vụ logistics của Singapore. Đồng thời bài nghiên cứu còn phân tích trƣờng hợp 8 kinh nghiệm và bài học của London, Anh Quốc trên cơ sở đó ra cácchính sách chiến lƣợc cơ bản, các đề xuất nhằm tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của Singapore, hƣớng tới mục tiêu đƣa quốc gia này trở thành trung tâm logistics toàn cầu tại khu vực châu Á. [28] Tại Diễn đàn Logistics và Dịch vụ cảng biển Việt Nam trong bối cảnh Hội nhập kinh tế quốc tế, (3/2011) Aloysius Lim đã trình bày nghiên cứu về “Chiến lƣợc phát triển dịch vụ logistics và cảng biển: Kinh nghiệm từ quốc đảo Singapore”. Tác giả đã trình bày sự thành công của dịch vụ logistics và ngành cảng biển Singapore là nhờ các chính sách ƣu đãi, khuyến khích phát triển của Chính phủ Singapore.
Tuy nhiên, tác giả mới chỉ đề cập đến những ƣu đãi của Chính phủ trong những chính sách về thuế, hỗ trợ tài chính và nhân lực trong lĩnh vực hàng hải, vận tải biển. [15] Rohit Bhatnaga và các cộng sự (1999) đã phân tích ba yếu tố chính quyết định đến việc sử dụng dịch vụ logistics bên thứ ba (3PL) trong tƣơng lai, bao gồm: mức độ sử dụng dịch vụ logistics bên thứ ba, quá trình đƣa ra quyết định để chọn hợp đồng nhà cung cấp dịch vụlogistics bên thứ ba, tác động của việc sử dụng dịch vụ logistics bên thứ ba đối với tổ chức. Nghiên cứu đƣợc tiến hành ở Singapore bằng việc phân tích ảnh hƣởng của ba yếu tố này đối với việc có sử dụng dịch vụ logistics bên thứ ba tại Singapore. Kết quả dựa trên phân tích dữ liệu liên quan đến các doanh nghiệp đã cho thấy rằng hầu hết khách hàng đều hài lòng với bên cung cấp dịch vụ logistics, điều này giúp có thêm niềm tin và có quyền lạc quan vào tƣơng lai phát triển tích cực của dịch vụ logistics, nhiều doanh nghiệp sẽ tăng cƣờng sử dụng dịch vụ logistics bên thứ ba nhƣ một xu hƣớng tất yếu.
[26] Chee‐Chuong Sum và Chew‐Been Teo (1999) đã chứng minh đƣợc vai trò ngày càng quan trọng của logistics trong chuỗi cung ứng của các tổ chức, các doanh nghiệp tại Singapore trong việc vận chuyển nguyên liệu và sản 9 phẩm. Các doanh nghiệp có xu hƣớng vƣơn ra toàn cầu nhằm tiếp cận các thị trƣờng mới với tham vọng đạt đƣợc mục tiêu sản xuất năng suất tốt hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Để đạt đƣợc mục tiêu này thì việc sử dụng dịch vụ của các bên cung cấp dịch vụ logistics là phƣơng án hiệu quả và tối ƣu để đảm bảo thỏa mãn yêu cầu về logistics đặt ra. Trong bối cảnh nhu cầu tăng cao, sự cạnh tranh cũng trở nên khốc liệt hơn, các nhà cung cấp dịch vụ logistics tại Singapore cần phải hoạch định chiến lƣợc để xác định vị trí dịch vụ mà họ muốn cung cấp cho khách hàng dựa trên ba khía cạnh: chi phí, chất lƣợng, đặc điểm và giá trị gia tăng mà họ mang lại cho khách hàng.
Bài nghiên cứu đại diện cho một trong những nghiên cứu đầu tiên khảo sát chiến lƣợc đinh vị của các nhà cung cấp dịch vụ logistics tại Singapore, sử dụng mô hình cạnh tranh của Michael Porter(1) để phân tích hiệu quả kinh doanh, công nghệ, mục tiêu hoạt động và kế hoạch tƣơng lai của từng loại chiến lƣợc phát triển.Sự khác biệt giữa các chiến lƣợc tạo ra góc nhìn mới và hàm ý về quản lý logistics cho những ngƣời lãnh đạo, nhà điều hành doanh nghiệp. [16] Hai Feng và Cheng Jin - ling (2011) đã có nghiên cứu về các đặc tính và xu hƣớng phát triển của ngành logistics tại Nhật Bản dựa trên những hiểu biết về ngành logistics trong khu vực để giới thiệu về sự phát triển của logistics Nhật Bản và cách thức ngành này đã thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản phát triển.Các tác giả cũng đã phân tích các đặc tính riêng biệt đồng thời thảo luận về xu hƣớng phát triển mới của ngành logistics nhƣ: hội nhập và thông tin, logistics xanh, thƣơng mại điện tử và logistics toàn cầu.[23] Yi Chih Yang và Shu Ling Chen (2016) đã công bố nghiên cứu về các yếu tố thúc đẩy phát triển của các trung tâm logistics toàn cầu: so sánh chính sách phát triển cảng biển giữa Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản. Các tác (1) Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter (Porter’s Five Forces frame) cho rằng cƣờng độ cạnh tranh trên thị trƣờng trong một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của năm lực lƣợng cạnh tranh sau: sức mạnh nhà cung cấp, nguy cơ thay thế, các rào cản gia nhập, sức mạnh khách hàng, mức độ cạnh tranh trong ngành. 10 giảđã khảo sát các tiêu chí đánh giá cổng trung tâm logistics toàn cầu và so sánh khả năng cạnh tranh của ba cảng trung chuyển quốc tế chính ở khu vực Đông Bắc Á bao gồm cảng Busan (Hàn Quốc), cảng Kaohsiung (Đài Loan) và cảng Tokyo (Nhật Bản) từ góc nhìn logistics sử dụng cách tiếp cận đa điểm quá trình phân tích thứ bậc AHP(2) và phân tích tƣơng quan màu xám GRA (3).
Tổng cộng có 20 tiêu chí đánh giá đƣợc thu thập theo năm khía cạnh bao gồm môi trƣờng chính trị - kinh tế, môi trƣờng vận hành, môi trƣờng chi phí, môi trƣờng cơ sở hạ tầng và môi trƣờng ƣu đãi. Kết quả AHP cho thấy theo quan điểm của tất cả các đối tƣợng đƣợc khảo sát, năm tiêu chí đánh giá hàng đầu là chi phí vận chuyển và phân phối, sự thuận tiện về thủ tục thông quan, chi phí cảng biển, chi phí đất đai, sự phù hợp của hệ thống đầu tƣ và các chính sách, biện pháp khuyến khích của chính phủ. Dựa vào kết quả của GRA, thì Busan là cảng trung tâm logistics toàn cầu đạt đƣợc mức độ hài lòng cao nhất, tiếp đến là cảng Tokyo và cuối cùng là cảng Kaohsiung.