CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHO THUÊ TÀI CHÍNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Các khái niệm cơ bản về dịch vụ cho thuê tài chính Các khái niệm về cho thuê tài chính Có nhiều khái niệm về cho thuê tài chính như sau: Tại khoản 7 Điều 3 Nghị định 39/2014/NĐ-CP có giải thích như sau: "Điều 3. Giải thích từ ngữ Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê tài chính với bên thuê tài chính. Bên cho thuê tài chính cam kết mua tài sản cho thuê tài chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê tài chính trong suốt thời hạn cho thuê.
Bên thuê tài chính sử dụng tài sản thuê tài chính và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính." Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 06 cũng nêu rõ thuê tài chính là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. “Tài sản cho thuê tài chính (sau đây gọi tắt là tài sản cho thuê) là máy móc, thiết bị hoặc tài sản khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn cụ thể các loại tài sản cho thuê trong từng thời kỳ” (Theo khoản 8, điều 3, nghị định số 39/2014/NĐ-CP).
Như vậy, bên cho thuê tài chính sẽ sử dụng nguồn vốn sẵn có của mình để mua các tài sản theo nhu cầu của bên muốn thuê. Theo quy định tại Điều 113 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định về hoạt 11 động cho thuê tài chính như sau: "Điều 113. Hoạt động cho thuê tài chính Hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau đây: 1. Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên; 2.
Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại; 3. Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó; 4. Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng." Theo Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg quy định nhóm ngành Hoạt động cho thuê tài chính sẽ có mã ngành là 6491 – 64910 trong ngành hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm. Cụ thể “hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê.
Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận.” Theo Nguyễn Thị Thanh Miện (2012), “Cho thuê tài chính là hình thức cấp "tín dụng trung dài hạn, trong đó bên cho thuê chuyển giao cho bên thuê quyền sử dụng tài sản cho thuê trong một khoảng thời gian xác định. Trong thời gian sử dụng tài sản, bên thuê phải trả tiền cho bên cho thuê. Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê được quyền mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê tài sản hoặc hoàn trả lại tài sản cho bên cho thuê” 12 Theo Cosci và cộng sự (2015); Grenadier (1996); Ma và Wan (2010); Sorensen và Johnson (1977) CTTC là tất cả hoặc hầu hết rủi ro và bồi thường tài chính liên quan đến quyền sở hữu tài sản được chuyển giao Theo Luật hợp đồng của nhân dân Cộng hòa Trung Quốc (1999) Hợp đồng cho thuê tài chính được một hợp đồng mà người cho thuê mua các mặt hàng cho thuê từ người bán theo người đi thuê người bán mục tiêu và các mặt hàng cho thuê, trao quyền sử dụng cho người thuê và nhận tiền thuê do người thuê trả.
Theo các biện pháp quản lý công ty cho thuê tài chính (2014) thuật ngữ “cho thuê tài chính” có nghĩa là bên cho thuê cho thuê tài sản lấy từ nhà cung cấp để bên thuê theo sự lựa chọn hoặc yêu cầu và nhận tiền thuê, tất cả những điều này phù hợp với hợp đồng thuê Theo Abashina và cộng sự (1998); Cuming (1998) Một hợp đồng theo đó bên cho thuê cam kết tiếp nhận tài sản do bên thuê chỉ định, bên thuê thanh toán cho việc sở hữu và sử dụng tạm thời. Theo Lapygin and Sokolsky (2002) CTTC là hợp đồng thuê dài hạn mà bên cho thuê không chịu trách nhiệm về tình trạng của tài sản, tài sản thuê khấu hao và thuộc quyền sử dụng của bên thuê. Theo McConnell và Schallheim (1983) CTTC là một trong những sản phẩm tài trợ vốn được cung cấp bởi các tổ chức tài chính. Theo các điều khoản tiêu chuẩn của hợp đồng thuê hoạt động, đây là một dịch vụ trong đó các tổ chức tài chính hoạt động như một bên cho thuê và khách hàng, bên thuê nhận được quyền sử dụng tài sản thuê trong một thời hạn nhất định khoảng thời gian.
Khoản thanh toán tiền thuê đầu tiên sẽ được thực hiện khi hợp đồng thuê được bắt đầu và các khoản thanh toán tiếp theo sẽ được thực hiện định kỳ vào những ngày đã thỏa thuận trong tương lai Từ những khái niệm trên có thể hiểu hoạt động cho thuê tài chính là việc bên cho thuê tài chính sẽ mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê tài chính và bên thuê sẽ phải trả tiền thuê tài sản đó trong suốt thời hạn thuê được ghi trên hợp đồng. 13 Sau khi kết thúc hợp đồng được nhận chuyển quyền tài sản đó hoặc tiếp tục thuê tùy theo thỏa thuận của các bên. Đồng thời bên thuê có thể mua tài sản này với giá danh nghĩa hấp dẫn hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại. Như vậy doanh nghiệp có thể được tài trợ vốn thông qua dịch vụ cho thuê tài chính, ngoài những hình thức cho vay, tài trợ vốn thông thường với các ngân hàng.
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác thông qua hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê là các công ty cho thuê tài chính và bên thuê là khách hàng. Doanh nghiệp được sử dụng tài sản và thanh toán dần tiền thuê trong suốt thời gian đã được thỏa thuận trong hợp đồng thuê. Phân biệt cho thuê tài chính với các hoạt động tín dụng khác So sánh Cho thuê tài chính và cho thuê vận hành như sau: Bảng 1.1 So sánh Thuê tài chính và thuê hoạt động Thuê tài chính Thuê hoạt động Là thuê tài sản cố định Giống nhau Là một khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thuê tài sản nhằm phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh. Khái niệm Là thuê tài sản mà bên Là thuê tài sản không phải là cho thuê có sự chuyển thuê tài chính.
giao phần lớn rủi ro; và Là hình thức cho thuê tài lợi ích gắn liền với quyền sản, theo đó khách hàng Khác nhau sở hữu tài sản cho bên được sử dụng tài sản cho thuê. Quyền sở hữu tài thuê của công ty cho thuê tài sản có thể chuyển giao chính trong một thời gian vào cuối thời hạn thuê. Sau khi tất toán thời gian thuê, khách hàng sẽ chuyển hoàn trả lại tài sản 14 đó cho bên cho thuê. Thời gian thuê Dài hạn Ngắn hạn Quyền hủy ngang Không được phép Được phép hợp đồng Mức độ chuyển Hợp đồng thuê tài sản có Hợp đồng thuê tài sản không giao các rủi ro thể hiện sự chuyển giao thể hiện sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền quyền sở hữu tài gắn liền với quyền sở hữu sản.
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) So sánh cho thuê tài chính với tín dụng Ngân hàng như sau: Bảng 1.2 So sánh Thuê tài chính và Tín dụng Ngân hàng Cho thuê tài chính Tín dụng Ngân hàng Bản chất Là tổ chức tín dụng phi Là tổ chức tín dụng được ngân hàng, sử dụng vốn tự thực hiện toàn bộ các hoạt có, vốn huy động và các động ngân hàng liên quan nguồn vốn khác để cho đến tiền tệ và dịch vụ vay, đầu tư về tài chính ngân hàng, các dịch vụ nhưng không được làm cấp tín dụng và thanh các dịch vụ thanh toán, toán. không được nhận tiền gửi dưới 1 năm Hình thức tài trợ Tài trợ bằng tài sản như Tài trợ cho doanh nghiệp máy móc, thiết bị,. gọi trực tiếp bằng tiền chung là động sản. CTTC đảm bảo là khoản tiền bỏ 15 ra sử dụng đúng mục đích.
Đối tượng Động sản Động sản và bất động sản Các bên tham gia Hai hoặc ba bên trở lên: Hai bên: - Bên cho thuê - Ngân hàng - Bên thuê - Bên thuê - Nhà cung cấp - Nhà bảo hiểm Thời gian Trung dài hạn Ngắn hạn Trung dài hạn Quyền sở hữu Bên cho thuê nắm giữ Thông qua hợp đồng để quyền sở hữu tài sản trong xác định số tiền vay mà thời gian thuê. Mức độ an bên vay chiếm giữ. toàn cao hơn tín dụng bằng tiền (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) 1. Phân loại các công ty cho thuê tài chính Theo Nguyễn Thị Thanh Miện (2012), cho rằng “cho thuê tài chính được phân loại theo như sau: Cho thuê tài chính hai bên Theo phương thức này, trước khi thực hiện nghiệp vụ cho thuê, tài sản cho thuê đã thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê bằng cách mua tài sản hoặc tự xây dựng.
Phương thức tài trợ này thường do các công ty kinh doanh bất động sản và các công ty sản xuất máy móc thiết bị thực hiện, như các nhà đầu tư xây dựng cao ốc văn phòng, các chung cư, sau đó ký các hợp đồng cho thuê với khách hàng. Các tổ chức tài chính rất ít áp dụng phương thức tài trợ này.