Luận văn thạc sĩ: Phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện tại huyện An Minh

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện tại BHXH huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

Trường đại học

Trường Đại học Duy Tân

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

0.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Tổng quan về tài liệu

0.6. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.1.1. Bảo hiểm xã hội

1.1.2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.2. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.2.1. Khái niệm phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.2.2. Nội dung phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.2.3. Các tiêu chí phản ánh phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BHXHTN

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

2.1.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện An Minh tỉnh Kiên Giang

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của BHXH huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI BHXH HUYỆN AN MINH

2.2.1. Thực trạng đánh giá nhu cầu dịch vụ BHXH tự nguyện

2.2.2. Thực trạng mở rộng các loại hình dịch vụ BHXH tự nguyện

2.2.3. Thực trạng mở rộng đối tượng người dân tham gia BHXHTN

2.2.4. Thực trạng mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ BHXH tự nguyện

2.2.5. Thực trạng nâng cao chất lượng dịch vụ BHXHTN

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BHXH TỰ NGUYỆN TẠI BHXH HUYỆN AN MINH

2.3.1. Các mặt đạt được

2.3.2. Những hạn chế chủ yếu

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN AN MINH

3.1. CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

3.1.1. Quan điểm chung về phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện

3.1.2. Mục tiêu phát triển dịch vụ BHXH Tự nguyện ở huyện An Minh

3.1.3. Dự báo nhu cầu tham gia BHXH TN ở huyện An Minh

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở BHXH HUYỆN AN MINH

3.2.1. Giải pháp mở rộng các loại hình dịch vụ BHXHTN

3.2.2. Giải pháp mở rộng đối tượng người dân tham gia BHXHTN

3.2.3. Giải pháp mở rộng mạng lưới làm công tác BHXHTN

3.2.4. Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ BHXHTN

3.2.5. Các giải pháp khác

3.2.5.1. Kiến nghị đối với UBND Huyện An Minh
3.2.5.2. Kiến nghị đối với BHXH tỉnh Kiên Giang

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Lộ trình phát triển BHXH tự nguyện tại huyện An Minh KG

Chính sách Bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện là một trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội huyện An Minh, góp phần đảm bảo cuộc sống cho người dân khi về già. Theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, mục tiêu bao phủ BHXH toàn dân đang được đẩy mạnh, đặc biệt là tại các địa phương có đông đảo lao động tự do như huyện An Minh. Việc phát triển BHXH tự nguyện tại huyện An Minh, Kiên Giang không chỉ là nhiệm vụ của ngành BHXH mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nhằm mang lại sự ổn định lâu dài cho người dân, nhất là các đối tượng nông dân huyện An Minhngư dân Kiên Giang. Bài viết này sẽ phân tích sâu về thực trạng, những thách thức và đề xuất các giải pháp mang tính đột phá để gia tăng tỷ lệ bao phủ BHXH, đưa chính sách ưu việt này đến gần hơn với mọi người dân. Trọng tâm của các giải pháp là cải thiện công tác truyền thông, tối ưu hóa vai trò của các đại lý thu BHXH, BHYT, và kiến nghị hoàn thiện chính sách để tăng tính hấp dẫn. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa BHXH tỉnh Kiên Giang và chính quyền địa phương, với mục tiêu cuối cùng là xây dựng một mạng lưới an sinh bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau.

1.1. Tầm quan trọng của an sinh xã hội tại huyện An Minh

Huyện An Minh là địa phương có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác thủy sản, nơi phần lớn lực lượng lao động là lao động tự do, không có hợp đồng lao động ổn định. Thu nhập của họ thường bấp bênh và phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, mùa vụ. Do đó, việc đảm bảo an sinh xã hội huyện An Minh trở thành một yêu cầu cấp thiết. Chính sách BHXH tự nguyện mang đến một giải pháp tài chính bền vững, giúp người lao động tự do An Minh có nguồn thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động thông qua chế độ hưu trí và tử tuất. Đây không chỉ là sự đảm bảo cho cá nhân mà còn góp phần giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.

1.2. Cơ sở pháp lý và chính sách BHXH tự nguyện mới

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và các văn bản hướng dẫn, đặc biệt là Nghị quyết số 28-NQ/TW, đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cho việc phát triển BHXH tự nguyện tại huyện An Minh, Kiên Giang. Các chính sách BHXH tự nguyện mới đã có nhiều điểm ưu việt, nổi bật là việc Nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng BHXH tự nguyện cho người tham gia. Cụ thể, Nhà nước hỗ trợ 30% cho hộ nghèo, 25% cho hộ cận nghèo và 10% cho các đối tượng khác. Chính sách này nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân, đặc biệt là những người có thu nhập thấp, tiếp cận và thụ hưởng các quyền lợi BHXH tự nguyện.

II. Thách thức thực trạng phát triển BHXH tại An Minh KG

Mặc dù có nhiều nỗ lực, công tác phát triển BHXH tự nguyện tại huyện An Minh, Kiên Giang vẫn đối mặt với không ít thách thức. Theo số liệu từ luận văn của tác giả Nguyễn Thị Cẩm, tính đến cuối năm 2019, toàn huyện chỉ có 968 người tham gia, đạt 1,2% lực lượng lao động trong độ tuổi, một con số còn rất khiêm tốn so với tiềm năng. Nguyên nhân chính xuất phát từ đặc thù kinh tế-xã hội của địa phương. Thu nhập của phần lớn người lao động tự do An Minh, đặc biệt là nông dânngư dân, còn thấp và không ổn định. Điều này khiến việc trích một khoản thu nhập hàng tháng để đóng BHXH trở thành một gánh nặng. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân về tầm quan trọng của việc tham gia BHXH để đảm bảo an sinh lâu dài còn hạn chế. Họ thường có tâm lý ưu tiên các chi tiêu trước mắt hơn là đầu tư cho tương lai. Thêm vào đó, chính sách BHXH tự nguyện hiện chỉ bao gồm hai chế độ là hưu trí và tử tuất, chưa thực sự hấp dẫn so với BHXH bắt buộc. Đây là những rào cản lớn cần có giải pháp tăng đối tượng BHXH tự nguyện một cách căn cơ và hiệu quả.

2.1. Phân tích tỷ lệ bao phủ BHXH còn thấp trong thực tế

Số liệu thống kê giai đoạn 2017-2019 cho thấy, mặc dù số người tham gia có tăng qua các năm, nhưng tỷ lệ bao phủ BHXH tự nguyện tại An Minh vẫn chưa đạt kỳ vọng. Tỷ lệ 1,2% vào cuối năm 2019 là một minh chứng rõ ràng. Sự chênh lệch lớn giữa tiềm năng (với hàng chục ngàn lao động tự do) và số người tham gia thực tế cho thấy các chính sách và phương pháp triển khai chưa thực sự chạm đến đúng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện. Hầu hết người tham gia lựa chọn mức đóng thấp nhất, phản ánh khả năng tài chính còn hạn hẹp của đa số người dân. Điều này đặt ra bài toán về việc làm sao để chính sách vừa phù hợp với khả năng đóng góp, vừa đảm bảo mức hưởng đủ sống khi về già.

2.2. Nguyên nhân từ nhận thức của người lao động tự do

Một trong những rào cản lớn nhất là nhận thức. Nhiều người lao động tự do An Minh chưa hiểu rõ về quyền lợi BHXH tự nguyện. Họ có tâm lý lo ngại về việc đóng tiền trong một thời gian dài (ít nhất 20 năm) mà chưa thấy lợi ích ngay lập tức. Công tác tuyên truyền chính sách BHXH mặc dù đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao, chưa đủ sức thuyết phục để thay đổi thói quen và tư duy 'ăn chắc mặc bền' của người dân. Sự thiếu thông tin hoặc thông tin chưa đầy đủ khiến họ so sánh việc tham gia BHXH với gửi tiết kiệm và cảm thấy kém hấp dẫn hơn, bỏ qua giá trị cốt lõi là sự bảo trợ của Nhà nước và tính nhân văn của chính sách.

III. Phương pháp truyền thông đột phá để phát triển BHXH An Minh

Để vượt qua các rào cản về nhận thức, việc đổi mới công tác truyền thông là giải pháp tăng đối tượng BHXH tự nguyện mang tính then chốt. Thay vì các phương pháp truyền thống, cần xây dựng một chiến lược truyền thông đa kênh, linh hoạt và gần gũi hơn với từng nhóm đối tượng. Nội dung tuyên truyền chính sách BHXH cần được 'địa phương hóa', sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào các ví dụ thực tế về những người dân tại địa phương đã được hưởng lợi từ chế độ hưu trí và tử tuất. Cần nhấn mạnh các lợi ích cụ thể: 'có lương hưu khi về già', 'được cấp thẻ BHYT miễn phí', 'an tâm cuộc sống'. Việc vận động người dân tham gia BHXH phải được thực hiện kiên trì, 'đi từng ngõ, gõ từng nhà'. Song song đó, việc ứng dụng công nghệ như mạng xã hội, tin nhắn Zalo để gửi thông tin, nhắc nhở định kỳ sẽ giúp tăng cường hiệu quả tiếp cận. Sự thành công của chiến dịch truyền thông sẽ là tiền đề vững chắc cho việc phát triển BHXH tự nguyện tại huyện An Minh, Kiên Giang.

3.1. Đổi mới công tác tuyên truyền chính sách BHXH trực tiếp

Công tác tuyên truyền trực tiếp cần được cá nhân hóa. Thay vì hội nghị chung, nên tổ chức các buổi đối thoại nhóm nhỏ tại ấp, khu phố, nơi cán bộ BHXH có thể lắng nghe và giải đáp cặn kẽ từng thắc mắc của người dân. Xây dựng các tài liệu truyền thông trực quan như tờ rơi, infographic so sánh lợi ích giữa tham gia BHXH và các hình thức tiết kiệm khác. Đặc biệt, cần nêu bật những câu chuyện thành công của những người đã và đang hưởng lương hưu từ BHXH tự nguyện ngay tại xã, huyện để tạo niềm tin và sự lan tỏa.

3.2. Tối ưu vai trò của đại lý thu BHXH và chính quyền

Mạng lưới đại lý thu BHXH, BHYT (thông qua Bưu điện, UBND xã) là cánh tay nối dài của cơ quan BHXH. Cần thường xuyên tập huấn, nâng cao kỹ năng tư vấn, vận động cho đội ngũ này. Họ không chỉ là người thu tiền mà còn là những tuyên truyền viên hiệu quả nhất vì gần dân, hiểu dân. Bên cạnh đó, sự vào cuộc của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ) trong việc vận động người dân tham gia BHXH sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp chính sách đi vào cuộc sống một cách sâu rộng và bền vững hơn.

IV. Giải pháp toàn diện phát triển đối tượng BHXH tự nguyện

Bên cạnh truyền thông, việc đưa ra các giải pháp tăng đối tượng BHXH tự nguyện một cách toàn diện là yếu tố quyết định sự thành công. Cần đa dạng hóa các phương thức đóng, giúp người dân linh hoạt lựa chọn theo chu kỳ thu nhập (hàng tháng, quý, 6 tháng, hoặc theo mùa vụ). Mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ thông qua các đại lý thu BHXH, BHYT đến tận các ấp, khu vực vùng sâu, vùng xa để người dân dễ dàng tiếp cận. Một kiến nghị quan trọng là đề xuất với BHXH tỉnh Kiên Giang và các cấp cao hơn nghiên cứu, bổ sung thêm các chế độ ngắn hạn hấp dẫn hơn vào gói BHXH tự nguyện, chẳng hạn như chế độ thai sản, trợ cấp ốm đau. Điều này sẽ làm tăng đáng kể tính hấp dẫn của chính sách, đặc biệt với lao động nữ. Việc cải thiện chất lượng dịch vụ, đơn giản hóa thủ tục đăng ký, và ứng dụng công nghệ thông tin để người dân có thể tự tra cứu quá trình đóng - hưởng cũng là những yếu tố cần được chú trọng để phát triển BHXH tự nguyện tại huyện An Minh, Kiên Giang một cách bền vững.

4.1. Mở rộng mạng lưới và đa dạng hóa phương thức đóng

Cần nghiên cứu và áp dụng các phương thức đóng linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù thu nhập của nông dân huyện An Minhngư dân Kiên Giang – những người có thu nhập không đều theo tháng. Ví dụ, cho phép đóng theo quý hoặc 6 tháng một lần, thậm chí đóng gộp sau mỗi vụ thu hoạch. Đồng thời, tăng cường sự hiện diện của các điểm thu流 động, kết hợp với các buổi sinh hoạt cộng đồng để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân khi muốn đăng ký và đóng tiền.

4.2. Kiến nghị về quyền lợi BHXH tự nguyện hấp dẫn hơn

Để chính sách thực sự thu hút, cần có sự điều chỉnh về quyền lợi BHXH tự nguyện. Việc chỉ có hai chế độ dài hạn là hưu trí và tử tuất là một hạn chế. Cơ quan BHXH huyện An Minh cần tổng hợp ý kiến người dân để kiến nghị cấp trên xem xét bổ sung các quyền lợi ngắn hạn như trợ cấp ốm đau, thai sản. Điều này sẽ giúp người lao động thấy được lợi ích thiết thực ngay trong quá trình tham gia, từ đó khuyến khích họ tham gia và duy trì việc đóng góp lâu dài, hướng tới mục tiêu cuối cùng là hưởng lương hưu.

V. Minh chứng hiệu quả từ phát triển BHXH tại huyện An Minh

Mặc dù tỷ lệ bao phủ còn khiêm tốn, những kết quả ban đầu trong việc phát triển BHXH tự nguyện tại huyện An Minh, Kiên Giang đã cho thấy những tín hiệu tích cực. Số liệu giai đoạn 2017-2019 ghi nhận sự tăng trưởng liên tục về số người tham gia mới, phản ánh nỗ lực không ngừng của cơ quan BHXH và chính quyền địa phương. Quan trọng hơn, đã có những trường hợp đầu tiên trên địa bàn huyện được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất từ chính sách này. Những câu chuyện thực tế về các nông dân, người lao động tự do An Minh sau nhiều năm tích lũy nay đã có một khoản lương hưu ổn định hàng tháng, không còn phụ thuộc vào con cháu, đã trở thành minh chứng sống động và thuyết phục nhất. Những tấm gương này chính là động lực để vận động người dân tham gia BHXH, cho họ thấy rằng việc tham gia BHXH tự nguyện là một sự đầu tư chắc chắn và an toàn cho tương lai. Các kết quả này, tuy nhỏ, nhưng là nền tảng để tin tưởng vào sự phát triển mạnh mẽ hơn của chính sách trong thời gian tới.

5.1. Phân tích số liệu tăng trưởng đối tượng tham gia 2017 2019

Dữ liệu từ BHXH huyện An Minh cho thấy, số người tham gia BHXH tự nguyện đã tăng đều qua các năm từ 2017 đến 2019. Đặc biệt, sau khi có chính sách hỗ trợ của Nhà nước từ năm 2018, tốc độ gia tăng có phần khởi sắc hơn. Điều này chứng tỏ chính sách hỗ trợ đóng là một đòn bẩy hiệu quả. Phân tích cơ cấu người tham gia cho thấy phần lớn là những người ở độ tuổi trung niên, đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc có lương hưu. Đây là nhóm đối tượng tiềm năng cần tập trung khai thác và mở rộng trong giai đoạn tiếp theo.

5.2. Câu chuyện thành công của người dân An Minh hưởng lương hưu

Câu chuyện của những người dân như ông A (xã Đông Thạnh) hay bà B (thị trấn Thứ 11) là minh chứng rõ nét nhất. Sau 20 năm kiên trì đóng BHXH tự nguyện, họ đã chính thức nhận được sổ hưu và khoản lương hưu hàng tháng. Khoản tiền này không chỉ giúp họ trang trải chi phí sinh hoạt, thuốc men khi về già mà còn mang lại sự tự chủ về tài chính và tinh thần an vui. Những câu chuyện này cần được lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng để củng cố niềm tin của người dân vào chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, xóa tan những hoài nghi và do dự.

VI. Định hướng phát triển BHXH tự nguyện An Minh đến năm 2030

Mục tiêu phát triển BHXH tự nguyện tại huyện An Minh, Kiên Giang đến năm 2030 là bám sát mục tiêu chung của quốc gia theo Nghị quyết 28-NQ/TW, phấn đấu đạt khoảng 5% lực lượng lao động trong khu vực phi chính thức tham gia. Để đạt được mục tiêu này, cần có một lộ trình và các giải pháp đồng bộ. Trước hết, phải tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông theo chiều sâu, biến nhận thức thành hành động tự giác của người dân. Thứ hai, cần hoàn thiện hệ thống đại lý thu BHXH, BHYT, nâng cao chất lượng dịch vụ và ứng dụng công nghệ để tối ưu hóa quy trình. Thứ ba, BHXH huyện cần chủ động tham mưu cho UBND huyện và kiến nghị với BHXH tỉnh Kiên Giang về các cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với địa phương. Tầm nhìn dài hạn là xây dựng một mạng lưới an sinh xã hội bao trùm, nơi mọi người lao động tự do An Minh đều có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng chính sách, đảm bảo một tuổi già an yên, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của huyện nhà.

6.1. Tổng kết giải pháp tăng đối tượng BHXH tự nguyện bền vững

Để gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện một cách bền vững, cần kết hợp ba nhóm giải pháp chính: (1) Truyền thông sâu rộng, cá nhân hóa và lấy dẫn chứng thực tế làm nòng cốt; (2) Cải thiện dịch vụ, đa dạng hóa phương thức đóng, đơn giản hóa thủ tục và mở rộng mạng lưới tiếp cận; (3) Hoàn thiện chính sách, kiến nghị bổ sung các quyền lợi ngắn hạn để tăng tính hấp dẫn. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba nhóm giải pháp này sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ, thúc đẩy tỷ lệ bao phủ BHXH tại An Minh.

6.2. Kiến nghị với BHXH tỉnh Kiên Giang và UBND huyện

Kiến nghị BHXH tỉnh Kiên Giang tiếp tục quan tâm, chỉ đạo và hỗ trợ nguồn lực cho BHXH huyện An Minh, đặc biệt trong công tác đào tạo đội ngũ và ứng dụng công nghệ. Đối với UBND huyện An Minh, cần đưa chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương, đồng thời chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể cùng vào cuộc một cách quyết liệt để vận động người dân tham gia BHXH, xem đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện tại bảo hiểm xã hội huyện an minh tỉnh kiên giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Bảo hiểm xã hội a. Khái niệm Bảo hiểm xã hội Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết là phải ăn, mặc, ở và đi lại…Để thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động làm ra sản phẩm cần thiết.

Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống của con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc thảo mãn nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào khả năng lao động của họ. Theo Monique (2010): “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”.

Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu và sự tồn tại của nó là tất yếu. Có nhiều khái niệm về BHXH do đó có nhiều cách tiếp cận BHXH khác nhau. Khái niệm được hiểu một cách chính xác nhất theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (1999). “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao 8 động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.

Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Phân loại bảo hiểm xã hội Con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải lao động để tạo ra các giá trị giúp thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, không phải lúc nào cuộc sống của con người cũng thuận lợi, có thu nhập thường xuyên, sức khỏe ổn định mà nó luôn tiềm ẩn những nguy cơ, rủi ro như: thiên tai, lũ lụt, ốm đau, tai nạn, những biến động xã hội,. và không ai tránh được quy luật sinh lão bệnh tử.

Khi đó, khả năng lao động của mỗi người bị giảm sút, thậm chí là mất khả năng lao động khiến thu nhập bị ảnh hưởng, trong khi các nhu cầu của cuộc sống lại đặt ra cấp thiết hơn. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân và gia đình mỗi người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội. Để tạo ra cơ chế hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, các nước trên thế giới ngay từ rất sớm đã xây dựng các loại hình BHXH. Tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội cũng như mức độ phát triển, mỗi quốc gia xây dựng cho mình một chính sách riêng, nhưng tựu chung hiện có hai loại hình BHXH là: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.

Vai trò của BHXH - Vai trò của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với cá nhân người lao động và gia đình: 9 Thứ nhất, ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình. Khi tham gia BHXH, BHXH TN, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên, khi về già hết tuổi lao động hoặc phải ngừng làm việc tạm thời. Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn (Viet Nam Foundation, 2013). Thứ hai, tạo được tâm lý yên tâm, tin tưởng.

Khi đã tham gia BHXH tự nguyện góp phần nâng cao đời sống tinh thần đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt khi về già(Viet Nam Foundation, 2013). - Vai trò của bảo hiểm xã hội, BHXHTN đối với xã hội: Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa các bên. Nhà nước, người sử dụng lao động và NLĐ có mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH. Tuy nhiên mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau.

Người lao động tham gia BHXH, BHXH tự nguyện với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH. Thứ hai, tạo điều kiện cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố trong cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ, nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”.

BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội công bằng, văn minh. 10 Thứ ba, thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần tương thân tương ái. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho xã hội phát triển lành mạnh và bền vững. Thứ tư, thực hiện bình đẳng xã hội.

Trên giác độ xã hội, BHXH TN là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động. Trên giác độ kinh tế, BHXH TN là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội (Viet Nam Foundation, 2013). Bảo hiểm xã hội tự nguyện a.

Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện Con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải lao động để tạo ra các giá trị giúp thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, không phải lúc nào cuộc sống của con người cũng thuận lợi, có thu nhập thường xuyên, sức khỏe ổn định mà nó luôn tiềm ẩn những nguy cơ, rủi ro như: thiên tai, lũ lụt, ốm đau, tai nạn, những biến động xã hội,. và không ai tránh được quy luật sinh lão bệnh tử. Khi đó, khả năng lao động của mỗi người bị giảm sút, thậm chí là mất khả năng lao động khiến thu nhập bị ảnh hưởng, trong khi các nhu cầu của cuộc sống lại đặt ra cấp thiết hơn.

Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân và gia đình mỗi người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội. Để tạo ra cơ chế hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, các nước trên thế giới ngay từ rất sớm đã xây dựng các loại hình BHXH. Tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội cũng như mức độ phát triển, mỗi quốc gia xây dựng cho mình một chính sách riêng, nhưng tựu chung hiện có hai loại hình BHXH là: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. 11 Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình được áp dụng cho những người làm việc trong khu vực chính thức, bao gồm: cán bộ, công chức Nhà nước và những người lao động có quan hệ lao động ổn định.

Đối với loại hình này, cả hai bên trong quan hệ lao động (người lao động và người sử dụng lao động) đều có trách nhiệm tham gia đóng góp tạo dựng quỹ BHXH bắt buộc. Còn BHXH tự nguyện là hình thức tự tham gia của người lao động để hình thành Qũy BHXH tự nguyện. Khái niệm BHXH tự nguyện không phải là một khái niệm mới, nó đã được hình thành và sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới như các nước Châu Âu và các châu lục khác. Còn khái niệm BHXH có thể được hiểu là: “BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội”.

Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH”. Bản chất, đặc trưng và vai trò của BHXHTN * Bản chất kinh tế của BHXH tự nguyện - Người tham gia cùng đóng góp một khoản tiền trích trong thu nhập để lập một quỹ dự trữ. - Mục đích để trợ cấp cho những người khi gặp rủi ro tránh được những hụt hẫng về thu nhập cho họ. 12 - Chỉ đóng góp một phần nhỏ, từ nhiều nguồn hình thành khác.

Tạo nên quỹ BHXH có khoản tiền lớn đảm bảo chi trả tài chính cho họ khi phát sinh nhu cầu thanh toán. - Quỹ hoạt động theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít người rủi ro”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ