Luận án về phát triển chuỗi giá trị hàng nông sản ở tỉnh Tuyên Quang

Tài liệu nghiên cứu Luận án phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh tuyên quang, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016-2019

191
11
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HÀNG NỒNG SẢN THEO CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HÀNG NÔNG SẢN THEO CHUỖI GIÁ TRỊ Ở TỈNH TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 2014-2018

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HÀNG NÔNG SẢN THEO CHUỖI GIÁ TRỊ Ở TỈNH TUYÊN QUANG ĐẾN NĂM 2025

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển chuỗi giá trị nông sản

Phát triển chuỗi giá trị nông sản tại Tuyên Quang là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Tỉnh Tuyên Quang, với đặc thù là một tỉnh miền núi, có trên 85% dân số sống ở nông thôn, đang đối mặt với nhiều thách thức trong sản xuất nông nghiệp. Việc phát triển nông sản Tuyên Quang theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, dựa trên phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị, được coi là giải pháp tối ưu. Theo đó, việc hình thành các chuỗi giá trị cho các sản phẩm chủ lực như cam, chè, lạc, và trâu đã được thực hiện, tạo ra quy trình sản xuất - kinh doanh khép kín. Điều này không chỉ giúp nâng cao giá trị gia tăng nông sản mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh.

1.1. Khái niệm và vai trò của chuỗi giá trị nông sản

Khái niệm chuỗi giá trị nông sản được hiểu là toàn bộ các hoạt động từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Vai trò của chuỗi giá trị là rất quan trọng, không chỉ trong việc nâng cao giá trị gia tăng nông sản mà còn trong việc tạo ra sự liên kết giữa các chủ thể trong sản xuất. Việc áp dụng công nghệ trong nông nghiệphợp tác xã nông nghiệp là những yếu tố then chốt giúp tăng cường hiệu quả của chuỗi giá trị. Các mô hình liên kết sản xuất giữa nông dân và doanh nghiệp đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

II. Thực trạng phát triển chuỗi giá trị nông sản tại Tuyên Quang

Giai đoạn 2014-2018, thực trạng phát triển nông sản tại Tuyên Quang cho thấy nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Năng suất cây trồng và vật nuôi còn thấp, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, và việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa cao. Các chính sách nông nghiệp chưa được thực hiện đồng bộ, dẫn đến việc quản lý chuỗi cung ứng còn nhiều bất cập. Đặc biệt, việc kết nối giữa doanh nghiệp và nông dân còn lỏng lẻo, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm. Để khắc phục tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả của chuỗi giá trị nông sản.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị

Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị nông sản tại Tuyên Quang bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, và chính sách hỗ trợ từ nhà nước. Điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai có ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, sự tham gia của các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp cũng là yếu tố quan trọng. Các chính sách nông nghiệp cần được điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển chuỗi giá trị. Việc xây dựng các mô hình hợp tác xã nông nghiệp cũng cần được khuyến khích để tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi.

III. Giải pháp phát triển chuỗi giá trị nông sản đến năm 2025

Để phát triển chuỗi giá trị nông sản tại Tuyên Quang đến năm 2025, cần có những giải pháp cụ thể và đồng bộ. Trước hết, cần tăng cường đầu tư nông nghiệp và ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Thứ hai, cần xây dựng các chính sách hỗ trợ cho nông dân và doanh nghiệp trong việc phát triển chuỗi giá trị. Việc tổ chức các hội thảo, tập huấn về hợp tác xã nông nghiệp cũng rất cần thiết để nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nông dân. Cuối cùng, cần tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối giữa doanh nghiệp và nông dân để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.

3.1. Định hướng phát triển chuỗi giá trị nông sản

Định hướng phát triển chuỗi giá trị nông sản tại Tuyên Quang cần tập trung vào việc xây dựng các sản phẩm chủ lực, phát triển thương hiệu cho các sản phẩm nông sản đặc trưng của tỉnh. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và nông dân trong việc triển khai các chương trình phát triển chuỗi giá trị. Việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng như VietGAP cũng cần được khuyến khích để nâng cao giá trị sản phẩm. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc phát triển kinh tế nông thôn thông qua việc tạo ra việc làm và nâng cao đời sống cho người dân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển hàng nông sản 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Frank Ellis (1995) trong tác phẩm “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển” [18] của mình đã phân tích một cách tổng quát tám vấn đề chính sách cốt lõi trong phát triển nông nghiệp.

Mặc dù vậy, tác giả cũng khẳng định rằng, chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển là một vấn đề hết sức phức tạp, mỗi nước có một hệ thống chính sách khác nhau, có phạm vi và mức độ tác động khác nhau. Thậm chí với cùng một loại chính sách, các nước có mức độ phát triển khác nhau và với các vấn đề kinh tế khác nhau cũng có những sự thích ứng và biến đổi khác nhau. Trong Báo cáo Phát triển Việt Nam 2016 “Chuyển đổi Nông nghiệp Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào” [48], Ngân hàng Thế giới đưa ra một số khuyến nghị để hiện thực hóa tầm nhìn phát triển nông nghiệp Việt Nam đến năm 2030, thông qua đổi mới chính sách và thể chế, trong đó nhấn mạnh: Khuyến khích đổi mới, sáng tạo trong toàn bộ CGT nông nghiệp; Tăng cường hệ thống tổ chức và năng lực quản lý rủi ro an toàn thực phẩm; Đẩy mạnh hành động tập thể nhằm xây dựng CGT nông nghiệp cạnh tranh và bao trùm; Tái khẳng định vị thế và thương hiệu của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Các công trình nghiên cứu trong nước Đỗ Kim Chung (2002) trong nghiên cứu “Từ marketing nông nghiệp sang marketing thực phẩm nông sản: Kinh nghiệm từ các nước châu Á” [5] đã phân tích những cách tiếp cận mới về tiếp thị hàng nông sản.

Từ sự thay đổi nhanh chóng về thị hiếu tiêu dùng, về toàn cầu hóa, công nghệ thông tin… các nước 9 Châu Á đã hình thành phương thức mới về marketing trong nông nghiệp, đó là marketing thực phẩm nông sản, là chiến lược thị trường để bán các sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, phân loại, bảo quản và sơ chế (hay chế biến), gọi tắt là công nghệ sau thu hoạch. Chiến lược này hướng về cầu tiêu dùng, làm gắn kết bền chặt giữa sản xuất và chế biến, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào marketing và dần hình thành chợ bán buôn. Hệ thống marketing này đã và đang thành công ở Singapore, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, giúp hàng nông sản các nước này chiếm lĩnh được thị trường trong nước và một số thị trường xuất khẩu. Nguyễn Kế Tuấn (2003, 2004) trong nghiên cứu “Nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” [80] và “Nông sản xuất khẩu Việt Nam và một số giải pháp phát triển” [81] đã đánh giá hiệu quả xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam thời gian qua như gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, cao su, rau quả, chè, lạc và đưa ra một số giải pháp phát triển trong đó nhấn mạnh vai trò của việc phát triển công nghiệp chế biến, đó là cách thức nâng cao GTGT của hàng nông sản, hạn chế tình trạng xuất khẩu sản phẩm thô, góp phần ổn định cho sản xuất nông nghiệp; và đặc biệt là giải pháp liên kết quốc tế trong sản xuất và xuất khẩu nông sản, một cách làm mới nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm sản xuất và quản lý của các nước phát triển.

Hoàng Hải Anh (2005) trong nghiên cứu “Nông sản Việt Nam và con đường xây dựng thương hiệu” [1] đã bàn về thực trạng 90% hàng hóa nông sản chủ lực của Việt Nam, mặc dù đã có mặt tại hơn 80 quốc gia nhưng đều được xuất khẩu qua trung gian, phải mang nhãn mác của một số nước mà không có thương hiệu riêng. Đòi hỏi cấp bách đặt ra trong quá trình phát triển hàng nông sản đó là phải xây dựng được các thương hiệu nông sản chủ lực với đặc thù vùng, miền, chỉ dẫn địa lý, có chiến lược tiếp thị, quảng bá thương hiệu vươn tầm thế giới, chỉ khi đó, nông sản Việt Nam mới có thể phát triển độc lập, không phải mang nhãn hiệu nước ngoài trên thị trường thế giới. Trong kinh tế thị trường, việc tiêu thụ nông sản được thực hiện qua các kênh nhất định, tạo nên hệ thống giao dịch hàng hóa. Hệ thống giao dịch hàng hóa càng mở rộng, phát triển sẽ tạo thế chủ động cho sản xuất nông nghiệp phát triển, tránh những rủi ro tiêu cực của thị trường như rớt giá, hủy hợp đồng… Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2006) “Tăng hiệu quả tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng” [24] và Minh Hoài (2006) “Tiêu thụ nông sản theo hợp đồng” [25] cùng bàn về những giải pháp để thực hiện có hiệu quả Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng.

Các nhóm giải pháp chính sách vĩ mô của Nhà nước, đối với doanh nghiệp và hộ nông dân, thể chế được đưa ra nhằm khuyến khích việc ký kết hợp đồng giữa các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến, xuất khẩu nông sản với người sản xuất trực tiếp, các hộ nông dân, đó là xu hướng phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Đào Vũ Hoài Giang (2006) có nghiên cứu “Việt Nam cần sớm có thị trường giao sau cho nông sản hàng hóa” [20] nêu lên tính cần thiết cấp bách và là xu thế tất yếu của thương mại nông sản, Thị trường nông sản giao sau, một mặt tạo cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước và xuất khẩu chủ động trong việc tìm và chọn đối tác phù hợp, chủ động quyết định về số lượng, chất lượng và giá cả, đồng thời giúp người sản xuất chủ động đầu ra cho sản phẩm. Mai Thị Thanh Xuân (2006) khi nghiên cứu “Công nghiệp chế biến với việc nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu ở Việt Nam” [89] đã lưu ý những hậu quả chính do công nghiệp chế biến lạc hậu gây ra cho hoạt động xuất khẩu, đó là: Thứ nhất, tỷ lệ hàng nông sản xuất khẩu qua chế biến nhỏ, mức độ thỏa mãn nhu cầu của thị trường thế giới thấp, gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu. 11 Thứ hai, mức tiêu hao nguyên liệu cao, chất lượng sản phẩm thấp, dẫn đến khả năng cạnh tranh kém.

Thứ ba, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch cao, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Bài báo cũng đã đề xuất một số giải pháp thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển theo hướng tăng nhanh giá trị hàng nông sản xuất khẩu. Đặng Kim Sơn (2008) trong công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa” [61] đã phân tích chiến lược phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa ở nhiều quốc gia trên thế giới, những bài học thành công và những mâu thuẫn mới nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa. Từ đó gợi mở cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng phù hợp với thực tiễn phát triển nông nghiệp nước nhà.

Nguyễn Lê Huy (2008) trong nghiên cứu “Thực trạng và một số giải pháp phát triển sản xuất nông sản hàng hóa tại 4 huyện vùng cao phía bắc tỉnh Hà Giang” [37] phân tích tình hình phát triển trong 5 năm (2002-2006) của một số cây trồng ở 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, là 4 huyện có diện tích đất nông nghiệp ít ỏi, manh mún, chủ yếu là núi đá nên hệ thống thủy lợi không đáp ứng được nhu cầu về nước tưới để canh tác lúa mà chủ yếu dựa vào nguồn nước tự nhiên. Vấn đề căn cốt là phát triển được các loại giống cây trồng có khả năng thích ứng với điều kiện khắc nghiệt của đất đai, khí hậu, thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng xen với cây nông nghiệp khác để tiết kiệm đất. Vũ Văn Hùng (2009) gợi ý “Phát triển kênh phân phối nông sản trực tiếp thông qua siêu thị ở Việt Nam” [34] là một cách để nâng cao lợi ích kinh tế của các chủ thể tham gia vào quán trình phân phối hàng nông sản trong bối cảnh hệ thống các siêu thị ở các thành phố lớn đã phát triển rầm rộ và tạo thành mạng lưới phân phối tới tận từng gia đình. Phan Huy Đường (2009) bàn đến một kênh phân phối khác trong nghiên cứu “Phát huy vai trò của hợp tác xã để tiêu thụ hàng nông sản” [16].

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế hợp tác cùng có lợi, hoạt động dựa trên 4 nguyên tắc: Tự nguyện; dân chủ, bình đẳng và công khai; tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có 12 lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng. Với vai trò gắn kết các hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, HTX góp phần quan trọng thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa. Trần Quang Minh (2010) trong cuốn “Nông nghiệp Hàn Quốc trên đường phát triển” [45] đã nhấn mạnh đến những thay đổi chủ yếu của nông nghiệp Hàn Quốc, trong đó đáng quan tâm nhất là những thay đổi về thị hiếu tiêu dùng hàng nông sản. Đây là chìa khóa mở ra những thay đổi trong cơ cấu hàng nông sản, chế biến hàng nông sản… và hàng loạt các thay đổi khác trong sản xuất nông nghiệp để đưa nông nghiệp Hàn Quốc phát triển hiện đại.

Vũ Văn Hùng (2010) khi nghiên cứu về “Giải pháp cho những nghịch lý trong phân phối nông sản ở Việt Nam” [35] đã chỉ ra một số điểm đặc trưng của sản xuất nông nghiệp như: sản xuất nông nghiệp thì theo mùa vụ nhưng nhà phân phối thì đòi hỏi được cung cấp hàng hóa quanh năm; nông dân có có xu hướng dùng nhiều thuốc BVTV, thuốc kháng sinh… để đảm bảo năng suất hàng nông sản trong khi nhà phân phối và thị trường cần hàng nông sản sạch; nông dân sản xuất thiếu tính liên kết, mạnh mún, rời rạc, quy mô nhỏ trong khi nhà phân phối cần khối lượng hàng hóa lớn và ít phải đi thu gom nhỏ lẻ; Nhà phân phối muốn có hợp đồng liên kết với nông dân để ổn định nguồn cung nhưng nông dân lại có xu hướng phá vỡ hợp đồng khi thấy có lợi trước mắt. Để giải quyết những nghịch lý này, nhất là việc đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng liên kết giữa người nông dân và doanh nghiệp, rất cần vai trò trung gian, cầu nối của Nhà nước, tạo cơ chế ràng buộc bền chặt, hữu cơ, cùng có lợi giữa người nông dân sản xuất và doanh nghiệp tiêu thụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về phát triển chuỗi giá trị hàng nông sản ở tỉnh Tuyên Quang" tập trung vào việc phân tích và phát triển chuỗi giá trị cho hàng nông sản tại tỉnh Tuyên Quang, một vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay nhằm nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Luận án này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị nông sản mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình sản xuất và tiêu thụ nông sản tại địa phương. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức tổ chức sản xuất, quản lý và phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến nông sản và phát triển nông nghiệp, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Giáo trình hướng dẫn tổ chức công tác khuyến nông hiệu quả, nơi cung cấp các phương pháp tổ chức và quản lý trong lĩnh vực khuyến nông, và Luận văn thạc sĩ về pháp luật môi trường trong hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Cuối cùng, Sử dụng Đất Nông Nghiệp ở Nông Cống, Thanh Hóa (2014-2019): Hiện Trạng và Phân Tích sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình sử dụng đất nông nghiệp, một yếu tố quan trọng trong phát triển chuỗi giá trị nông sản.