đặt vấn đề (giới thiệu ý tưởng, thông điệp chính: giới thiệu tóm tắt các nội dung cơ bản và tạo nên sự hòa hợp giữa 14 người trình bày với mọi người…); phát biểu vấn đề (là bước nêu lên những câu hỏi cụ thể nhằm vạch ra phạm vi những vấn đề cần phải xem xét trong bài thuyết trình); giải quyết vấn đề (lựa chọn thông điệp chính; sắp xếp theo thứ tự logic; xác định thời gian phù hợp với từng nội dung….; kết luận (là bước kết thúc việc trình bày vấn đề. Nó là sự kết tinh dưới dạng súc tích chính xác những khái quát bản chất của vấn đề đưa ra thông điệp ấn tượng cho bài thuyết trình). Tùy theo nội dung thuyết trình, hoàn cảnh thực tiễn khác nhau mà các bước thuyết trình có thể được nhấn lướt và biểu hiện khác nhau. * Kĩ năng tư duy sáng tạo Nghiên cứu về tư duy sáng tạo, các tác giả đưa ra một số quan niệm tiêu biểu như: tác giả G.Mehlhorn: “Tư duy sáng tạo là hạt nhân của sự sáng tạo cá nhân đồng thời là hạt nhân cơ bản của giáo dục”.
Từ bình diện nghiên cứu về năng lực của một con người, nhà nghiên cứu J.Danton quan niệm: “Tư duy sáng tạo, đó là năng lực tìm thấy những ý nghĩa mới, tìm thấy những mối liên hệ mới, là một chức năng của kiến thức, trí tưởng tượng và sự đánh giá…”. Chúng tôi cho rằng tư duy sáng tạo là tư duy có biểu hiện phát hiện và giải thích bản chất sự vật theo lối mới, hoặc tạo ra ý tưởng mới, cách giải quyết mới mang lại kết quả mới không theo tiền lệ trước đó. Tư duy sáng tạo có tính chất tương đối, không ổn định bởi có thể cùng một chủ thể giải quyết vấn đề trong điều kiện này nhưng có thể mang tính sáng tạo trong điều kiện khác, hoặc cùng một vấn đề được giải quyết có thể mang tính sáng tạo đối với người này nhưng không mang tính sáng tạo đối với người khác. Cũng có thể là cùng một hoàn cảnh nhưng từ mỗi tư duy của chủ thể khác nhau lại cho ra những kết quả sáng tạo không giống nhau.
Một số đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo là tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính hoàn thiện, tính nhạy cảm của vấn đề. Ngoài ra, tư duy sáng tạo còn có một số yếu tố quan khác như: Tính chính xác, năng lực định giá, năng lực định nghĩa lại, khả năng phán đoán. * Kĩ năng làm việc nhóm Làm việc nhóm (Teamwork) là cụm từ để chỉ quá trình hoạt động của một nhóm ít nhất từ 2 người trở lên có chung mục tiêu. Để đạt được mục tiêu chung, mỗi thành 15 viên trong nhóm đều có vai trò và trách nhiệm riêng, đồng thời hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành công việc và giải quyết các vấn đề phát sinh.
Làm việc mang lại nhiều ưu điểm so với hình thức làm việc cá nhân như: tận dụng sức mạnh của sự đa dạng; phân chia trách nhiệm; học hỏi và phát triển; tăng cường động lực; nâng cao chất lượng công việc. Để làm việc nhóm hiệu quả, các thành viên cần tuân thủ các nguyên tắc và kỹ năng làm việc nhóm như: giao tiếp rõ ràng, tôn trọng ý kiến của người khác, chia sẻ trách nhiệm, giải quyết xung đột một cách chuyên nghiệp và hợp tác với nhau để đạt được mục tiêu chung. Kỹ năng làm việc nhóm hay còn gọi là Teamwork skills để chỉ khả năng hợp tác và tương tác hiệu quả với các thành viên khác trong một nhóm để đạt được mục tiêu chung, thường diễn ra trong các cuộc thảo luận, dự án, cuộc họp hay các hoạt động hợp tác khác. Bao gồm khả năng giao tiếp, hợp tác, thích ứng, lãnh đạo, giải quyết xung đột và nhiều khía cạnh khác liên quan đến việc làm việc trong môi trường nhóm.
Kĩ năng làm việc nhóm thường đòi hỏi sự nhạy bén trong việc hiểu và tương tác với các thành viên khác, khả năng lắng nghe và truyền đạt thông tin một cách rõ ràng và hiệu quả, cũng như khả năng thể hiện ý kiến và đóng góp ý tưởng. Ngoài ra, kỹ năng quản lý thời gian, sắp xếp công việc và phân chia nhiệm vụ cũng là một phần quan trọng của kỹ năng làm việc nhóm. Nếu như kỹ năng làm việc nhóm tốt thì sẽ giúp tạo ra một môi trường làm việc tích cực và hỗ trợ, khuyến khích sự sáng tạo và thúc đẩy hiệu suất làm việc của cả nhóm. Bằng cách tận dụng lợi thế và đóng góp của từng thành viên, kỹ năng làm việc nhóm đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu chung và thành công của nhóm.
Đối với mỗi cá nhân, làm việc nhóm có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bản thân của mỗi người. Việc rèn luyện kỹ năng này sẽ giúp mỗi cá nhân phát triển kỹ năng giao tiếp, tự tin đưa ra quan điểm, ý kiến cá nhân của mình trong các cuộc thảo luận đội nhóm. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp, giúp giải quyết xung đột hiệu quả. Nâng cao năng lực tổ chức công việc, tăng cường hiệu suất làm việc.
Có thể đưa ra những quyết định đúng đắn dựa trên ý kiến của những người khác. Có cơ hội học hỏi từ những thành viên khác trong nhóm, mở rộng kiến thức và cảm thấy tự tin hơn trong công việc. 16 Trong dạy học, rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho HS là một việc làm rất cần thiết, giúp các em bộc lộ được những khả năng của bản thân, hình thành khả năng tư duy, hợp tác, trao đổi, chia sẻ và học hỏi lẫn nhau. Đặc biệt, nó có khả năng giúp các em ứng xử khéo léo trước các tình huống của cuộc sống.
Vấn đề đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu giáo dục ở trong và ngoài nước. * Kĩ năng quản lí thời gian Bất cứ trong thời đại nào thì con người đều cần phải tiết kiệm thời gian, bởi thế người người ta thường nhắc nhở nhau “thời gian quý như vàng”. Vì vậy, kỹ năng quản lý thời gian là một trong những kỹ năng cần phải có đối với bất cứ một cá nhân nào trong cuộc sống hay công việc. Kĩ năng quản lí thời gian sẽ giúp cho con người phân bổ, sắp xếp và thực hiện công việc hiệu quả nhất với quỹ thời gian cố định.
Việc quản lí thời gian sẽ giúp cho con người làm việc hiệu quả thì năng suất công việc sẽ luôn được đảm bảo từ đó cuộc sống trở nên tốt đẹp và có giá trị hơn. Kỹ năng quản lý thời gian là việc mỗi người sắp xếp, phân chia các loại công việc cần phải hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định hợp lý và đạt kết quả cao. Để tạo ra năng suất làm việc tối đa thì người thực hiện thường lập bảng kế hoạch chi tiết công việc theo các mốc thời gian. Để có thể đánh giá được mức độ hiệu quả của kỹ năng quản lý thời gian, người ta sẽ đánh giá dựa trên một quỹ thời gian có giới hạn chứ không xét về yếu tố hoàn thành trong thời gian sớm hay muộn.
Cùng một lượng công việc đặt ra và thời gian để hoàn thành công việc là như nhau, người có kỹ năng quản lý thời gian sẽ hoàn thành công việc với trạng thái thoải mái, có thời gian nghỉ ngơi trong khi người không có kỹ năng này sẽ không biết phải bắt đầu từ đâu và dần dần bị áp lực và căng thẳng trong công việc. Kĩ năng quản lí thời gian sẽ giúp cho con người biết cách phân chia các nhiệm vụ, công việc theo thứ tự ưu tiên và đưa ra mục tiêu thời gian để hoàn thành nó. Chính điều này sẽ giúp cho việc triển khai và kiểm soát công việc diễn ra hiệu quả, áp lực thời gian giảm đi đáng kể từ đó hiệu suất công việc được gia tăng. Vì công việc được giải quyết một cách hiệu quả với thời gian phù hợp so với hạn định do quản lí tốt thời gian sẽ giúp con người cảm thấy giảm bớt áp lực công việc và cuộc sống, mọi việc trở lên nhẹ nhàng và thư thái hơn.
Nếu không có kỹ năng quản lý thời gian, mỗi người 17 sẽ không thể biết được mình nên làm điều gì đầu tiên và các công việc mà mình sẽ thực hiện sẽ đi đến đâu. Việc này dẫn mọi người đến tình trạng luôn luôn phải chịu áp lực, căng thẳng không chỉ trong công việc mà còn đời sống. Đặc biệt khi không có kế hoạch cho các công việc của mình sẽ rất dễ gây lãng phí thời gian cho những điều vô giá trị, không cần thiết. Kĩ năng quản lí thời gian tốt giúp con người sẽ cân bằng cuộc sống, có thể dành thời gian cho công việc, gia đình, bạn bè, nghỉ ngơi, sở thích cá nhân…Chính vì vậy, việc quản lý thời gian và sắp xếp công việc một cách khoa học sẽ giúp mọi người có thể dễ dàng cân bằng cuộc sống để không bị quá bỏ quên một khía cạnh nào đó.
* Kĩ năng lãnh đạo bản thân Thuật ngữ “lãnh đạo bản thân” lần đầu tiên xuất hiện trong tài liệu quản lý tổ chức của Charles C. Theo tác giả Manz, lãnh đạo bản thân là: “Quan điểm ảnh hưởng toàn diện đến bản thân liên quan đến việc dẫn dắt bản thân thực hiện các nhiệm vụ thúc đẩy tự nhiên cũng như quản lý bản thân để làm công việc phải làm nhưng không phải là động lực tự nhiên”. Nhấn mạnh vai trò của kĩ năng lãnh đạo bản thân, tác giả Peter Drucker đã nêu lên định nghĩa: “trở thành nhà lãnh đạo bản thân là để phục vụ với tư cách là giám đốc, đội trưởng hoặc giám đốc điều hành cuộc sống của chính mình”. Điểm gặp gỡ giữa các nhà nghiên cứu trên là đề thảo luận và xem xét khái niệm tự lãnh đạo vẫn chủ yếu trong bối cảnh lãnh đạo và quản lý của tổ chức.
Trong các định nghĩa khác nhau, chúng tôi cho rằng định lãnh đạo bản thân của Marieta Du Plessis là trọn vẹn nhất. Ông đã viết: “Khả năng lãnh đạo bản thân tích cực đề cập đến khả năng xác định và áp dụng các điểm mạnh đặc trưng của một người để bắt đầu, duy trì các hành vi có ảnh hưởng đến bản thân”. Lãnh đạo bản thân là có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của bản thân trong mỗi tình huống nhất định như xác định việc mình là ai, mình có thể làm gì, sẽ đi đâu, mình thực hiện giải quyết vấn đề này như thế nào.