Luận văn thạc sĩ: Phát triển BHXH tự nguyện tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai

Luận văn phân tích thực trạng, yếu tố ảnh hưởng và giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò BHXH tự nguyện tại huyện Văn Bàn Lào Cai

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội tại Lào Cai và trên cả nước. Chính sách này đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp rủi ro như ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động hoặc tử tuất. Tại huyện Văn Bàn, một huyện miền núi với đặc thù kinh tế nông - lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, vai trò của BHXH tự nguyện càng trở nên quan trọng. Đây là công cụ hữu hiệu giúp người lao động thuộc khu vực phi chính thức, đặc biệt là BHXH cho nông dân, lao động tự do, có cơ hội tiếp cận với chính sách hưu trí. Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Huyền Trang (2020) nhấn mạnh, việc phát triển BHXH tự nguyện tại Văn Bàn không chỉ là mục tiêu của ngành bảo hiểm mà còn là nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội quan trọng. Mục tiêu này nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân khi về già, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương. BHXH huyện Văn Bàn, với vai trò là cơ quan thực thi chính sách, đã và đang nỗ lực triển khai nhiều hoạt động để mở rộng đối tượng tham gia, hướng tới mục tiêu nâng cao tỷ lệ bao phủ BHXH theo Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị.

1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Văn Bàn ảnh hưởng ra sao

Văn Bàn là huyện miền núi với 22 xã, thị trấn và 11 dân tộc anh em cùng sinh sống. Theo thống kê giai đoạn 2017-2019, kinh tế địa phương có mức tăng trưởng khá, thu nhập bình quân đầu người đạt 45,2 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, cơ cấu lao động chủ yếu tập trung ở khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ nhỏ lẻ. Nguồn thu nhập của đại bộ phận dân cư, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, còn bấp bênh và không ổn định. Theo tài liệu nghiên cứu, tính đến cuối năm 2019, dân số huyện có gần 9 vạn người nhưng phần lớn sống ở nông thôn. Lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm tỷ lệ cao, nhưng chủ yếu là lao động tự do, không có hợp đồng lao động chính thức. Đặc điểm này tạo ra một lượng lớn đối tượng tham gia BHXH tự nguyện tiềm năng, nhưng cũng là thách thức lớn do khả năng tài chính hạn chế và nhận thức về chính sách chưa cao. Chính vì vậy, việc triển khai chính sách BHXH tự nguyện Văn Bàn cần có những phương pháp tiếp cận đặc thù, phù hợp với điều kiện và trình độ dân trí của người dân địa phương.

1.2. Vai trò của BHXH huyện Văn Bàn trong an sinh xã hội địa phương

Vai trò của BHXH huyện Văn Bàn được thể hiện rõ qua việc tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT trên địa bàn. Cơ quan này chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc tuyên truyền, vận động, quản lý đối tượng, thu và chi trả các chế độ. Theo sơ đồ tổ chức, BHXH huyện Văn Bàn có cơ cấu gồm Ban Giám đốc và các bộ phận nghiệp vụ chuyên trách như quản lý thu, chế độ, giám định BHYT, cấp sổ thẻ. Với 15 cán bộ viên chức, đơn vị đã nỗ lực không ngừng để đưa chính sách an sinh của Đảng và Nhà nước đến gần hơn với người dân. Hoạt động của BHXH huyện không chỉ dừng lại ở việc giải quyết quyền lợi cho người tham gia mà còn góp phần quan trọng vào việc ổn định xã hội, thực hiện công bằng và thúc đẩy phát triển kinh tế. Việc phát triển thành công mạng lưới BHXH tự nguyện sẽ là minh chứng rõ nét nhất cho hiệu quả hoạt động của cơ quan này, góp phần xây dựng một hệ thống an sinh xã hội tại Lào Cai ngày càng vững mạnh.

II. Top 3 thách thức lớn khi phát triển BHXH tự nguyện ở Văn Bàn

Mặc dù đã đạt được những kết quả ban đầu đáng ghi nhận, công tác phát triển BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Văn Bàn vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Những rào cản này xuất phát từ cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan, đòi hỏi các giải pháp phát triển BHXH tự nguyện cần mang tính toàn diện và đột phá. Thách thức lớn nhất đến từ nhận thức của người dân. Nhiều người lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, chưa hiểu rõ về quyền lợi khi tham gia BHXH tự nguyện, xem đây là một khoản chi phí thay vì một hình thức tiết kiệm cho tương lai. Họ thường quan tâm đến lợi ích trước mắt hơn là những giá trị lâu dài như lương hưu và chế độ tử tuất BHXH tự nguyện. Bên cạnh đó, thu nhập không ổn định của nông dân, lao động tự do là một trở ngại lớn, khiến họ khó duy trì việc đóng phí đều đặn. Cuối cùng, công tác tuyên truyền BHXH tự nguyện dù đã được triển khai nhưng chưa thực sự sâu rộng và hiệu quả, chưa có hình thức tiếp cận phù hợp với từng nhóm đối tượng đặc thù tại một huyện miền núi như Văn Bàn.

2.1. Rào cản từ nhận thức và thu nhập của người lao động

Theo phân tích trong luận văn, một bộ phận không nhỏ người dân Văn Bàn vẫn còn tâm lý e ngại, chưa tin tưởng vào tính bền vững của chính sách BHXH. Họ có xu hướng so sánh lợi ích giữa việc gửi tiền tiết kiệm ngân hàng và tham gia BHXH tự nguyện. Việc phải chờ đợi một thời gian dài (đủ 20 năm đóng) mới được hưởng lương hưu khiến nhiều người nản lòng. Thêm vào đó, thu nhập của người dân chủ yếu dựa vào nông nghiệp, vốn phụ thuộc nhiều vào thời tiết và thị trường, dẫn đến tính ổn định không cao. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến quyết định và khả năng tham gia cũng như duy trì đóng BHXH. Nhiều trường hợp tham gia được một thời gian ngắn rồi dừng lại do khó khăn về tài chính, làm gián đoạn quá trình tích lũy và ảnh hưởng đến mục tiêu nâng cao tỷ lệ bao phủ BHXH của huyện.

2.2. Khó khăn trong công tác truyền thông và tiếp cận đối tượng

Địa bàn huyện Văn Bàn rộng, địa hình phức tạp, dân cư phân bố không đồng đều, đặc biệt là ở các xã vùng cao. Điều này gây khó khăn lớn cho việc tổ chức các buổi tuyên truyền trực tiếp. Các kênh truyền thông truyền thống như báo đài, tờ rơi đôi khi chưa phát huy hiệu quả tối đa do rào cản về ngôn ngữ và trình độ dân trí. Nghiên cứu chỉ ra rằng, thông tin về mức đóng BHXH tự nguyện mới nhất hay các thủ tục đăng ký BHXH tự nguyện vẫn chưa đến được với nhiều người dân. Công tác tuyên truyền BHXH tự nguyện cần những phương pháp sáng tạo hơn, chẳng hạn như lồng ghép vào các buổi sinh hoạt văn hóa thôn bản, thông qua người có uy tín trong cộng đồng, hoặc sử dụng các hình thức trực quan, sinh động để người dân dễ hiểu, dễ nhớ và tự nguyện tham gia.

2.3. Hạn chế từ chính sách và mạng lưới đại lý thu

Mặc dù đã có chính hỗ trợ của nhà nước cho BHXH tự nguyện, mức hỗ trợ này (10-30% trên mức chuẩn hộ nghèo nông thôn) được đánh giá là còn thấp, chưa đủ sức hấp dẫn để khuyến khích người dân tham gia, đặc biệt là những hộ có thu nhập gần ngưỡng nghèo. Bên cạnh đó, các chế độ của BHXH tự nguyện hiện chỉ giới hạn ở hưu trí và tử tuất, chưa bao gồm các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, điều này làm giảm tính hấp dẫn của chính sách so với BHXH bắt buộc. Ngoài ra, hệ thống đại lý thu BHXH tại các xã, thôn bản tuy đã được hình thành nhưng hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Năng lực, kỹ năng tuyên truyền, vận động của một số đại lý còn hạn chế, chưa tạo được sự tin tưởng và gắn kết chặt chẽ với người dân địa phương.

III. Giải pháp nâng cao tỷ lệ bao phủ BHXH qua truyền thông

Để vượt qua các thách thức, việc đổi mới và đẩy mạnh công tác tuyên truyền BHXH tự nguyện được xác định là giải pháp trọng tâm hàng đầu. Mục tiêu không chỉ là cung cấp thông tin mà còn phải thay đổi nhận thức, xây dựng niềm tin cho người dân. Kinh nghiệm từ các huyện lân cận như Si Ma Cai và Bảo Thắng cho thấy, truyền thông hiệu quả là chìa khóa để nâng cao tỷ lệ bao phủ BHXH. Thay vì các phương pháp truyền thống, cần áp dụng các hình thức đa dạng, linh hoạt, phù hợp với văn hóa và điều kiện thực tế của từng địa bàn. Cần nhấn mạnh vào những lợi ích thiết thực và lâu dài mà chính sách mang lại, đặc biệt là sự đảm bảo về thu nhập khi hết tuổi lao động, giúp người dân an tâm về già. Các thông điệp truyền thông cần ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, tập trung giải đáp các thắc mắc phổ biến như: mức đóng BHXH tự nguyện mới nhất là bao nhiêu, quyền lợi khi tham gia BHXH tự nguyện cụ thể là gì, và thủ tục đăng ký BHXH tự nguyện có phức tạp không.

3.1. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền chính sách BHXH

Một trong những giải pháp phát triển BHXH tự nguyện hiệu quả là phải đa dạng hóa kênh và hình thức truyền thông. Thay vì chỉ tổ chức hội nghị, cần đẩy mạnh tuyên truyền lưu động, phát tờ rơi, sử dụng loa phát thanh xã, thôn. Đặc biệt, cần xây dựng các nội dung tuyên truyền bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Việc lồng ghép thông tin về BHXH tự nguyện vào các buổi họp thôn, các chương trình văn nghệ, lễ hội tại địa phương sẽ giúp thông tin đến với người dân một cách tự nhiên và hiệu quả hơn. BHXH huyện Văn Bàn cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí, truyền thông của tỉnh và huyện để xây dựng các phóng sự, tin bài về những tấm gương điển hình tham gia BHXH tự nguyện, những câu chuyện thực tế về lợi ích mà chính sách mang lại, từ đó tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng.

3.2. Phát huy vai trò của chính quyền và các tổ chức đoàn thể

Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị là yếu tố quyết định thành công. Vai trò của BHXH huyện Văn Bàn cần được phát huy trong việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đưa chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện vào nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hàng năm. Cần tăng cường phối hợp với các tổ chức như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên để mỗi cán bộ hội, đoàn thể trở thành một tuyên truyền viên tích cực. Theo kinh nghiệm từ huyện Bảo Thắng, việc mỗi cán bộ, viên chức là một “Tuyên truyền viên BHXH” đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Lực lượng này, với sự gần gũi và am hiểu địa bàn, sẽ dễ dàng tiếp cận, giải thích và vận động người dân tham gia, góp phần thực hiện thành công kế hoạch phát triển BHXH Lào Cai trên địa bàn huyện.

IV. Phân tích thực trạng phát triển BHXH tự nguyện Văn Bàn 2017 2019

Giai đoạn 2017-2019 ghi nhận những bước tiến vượt bậc trong công tác phát triển BHXH tự nguyện tại huyện Văn Bàn. Số liệu từ Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Huyền Trang (2020) cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về quy mô và cơ cấu đối tượng, phản ánh nỗ lực của BHXH huyện và sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân. Nếu năm 2017, toàn huyện chỉ có 301 người tham gia, thì đến cuối năm 2019, con số này đã tăng lên 650 người, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân ấn tượng là 47,06%/năm. Đáng chú ý, kết quả thực hiện hàng năm đều vượt mức kế hoạch do BHXH tỉnh Lào Cai giao, cụ thể năm 2019 đạt 116,5% kế hoạch. Kết quả này cho thấy các giải pháp phát triển BHXH tự nguyện ban đầu đã phát huy hiệu quả, tạo tiền đề vững chắc cho các mục tiêu cao hơn trong tương lai, hướng đến một mạng lưới an sinh xã hội tại Lào Cai bao trùm và bền vững.

4.1. Tăng trưởng ấn tượng về quy mô đối tượng tham gia BHXH

Sự tăng trưởng về số lượng người tham gia là minh chứng rõ nét nhất cho sự phát triển của chính sách BHXH tự nguyện Văn Bàn. Cụ thể, số người tham gia đã tăng từ 301 người (2017) lên 426 người (2018) và đạt 650 người (2019). Tốc độ tăng trưởng năm sau luôn cao hơn năm trước, từ 41,5% (2018/2017) lên 52,6% (2019/2018). Sự gia tăng này không chỉ thể hiện hiệu quả của công tác vận động mà còn cho thấy người lao động đã dần nhận thức được tầm quan trọng của việc có một điểm tựa an sinh khi về già. Việc duy trì đà tăng trưởng này là nhiệm vụ trọng tâm, đòi hỏi sự nỗ lực liên tục trong việc cải thiện thủ tục đăng ký BHXH tự nguyện và nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan bảo hiểm.

4.2. Chuyển dịch tích cực trong cơ cấu đối tượng tham gia

Bên cạnh tăng trưởng về số lượng, cơ cấu đối tượng tham gia BHXH tự nguyện cũng có sự chuyển dịch tích cực. Mặc dù nhóm đối tượng nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (65,8% năm 2019), nhưng tỷ trọng này đang có xu hướng giảm dần. Ngược lại, số người tham gia từ các ngành thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng lại tăng trưởng rất nhanh. Đơn cử, nhóm thương mại, dịch vụ có tốc độ tăng trưởng lên tới 255% trong năm 2019. Về phân bố địa lý, số lượng người tham gia tập trung chủ yếu ở thị trấn Khánh Yên và các xã có điều kiện kinh tế phát triển hơn. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển đối tượng ở các xã vùng sâu, vùng xa còn rất lớn, cần được tập trung khai thác trong giai đoạn tiếp theo để nâng cao tỷ lệ bao phủ BHXH một cách đồng đều trên toàn huyện.

V. Định hướng kế hoạch phát triển BHXH tự nguyện tại Văn Bàn

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và nhận diện rõ các thách thức, kế hoạch phát triển BHXH Lào Cai tại huyện Văn Bàn trong giai đoạn tới cần có những định hướng chiến lược, vừa phát triển theo chiều rộng, vừa đi vào chiều sâu. Mục tiêu tổng quát là tiếp tục nâng cao tỷ lệ bao phủ BHXH, đưa chính sách an sinh xã hội đến với mọi người lao động, đặc biệt là nhóm nông dân, lao động tự do. Để làm được điều đó, cần tập trung vào ba trụ cột chính: (1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền BHXH tự nguyện theo hướng chuyên nghiệp, gần dân; (2) Hoàn thiện mạng lưới đại lý thu, nâng cao chất lượng dịch vụ và cải cách thủ tục hành chính; (3) Tích cực tham mưu, đề xuất các chính sách hỗ trợ phù hợp hơn với thực tiễn địa phương. Sự thành công của các định hướng này sẽ góp phần xây dựng một tương lai an sinh bền vững cho người dân Văn Bàn, nơi mọi người đều được đảm bảo cuộc sống khi hết tuổi lao động.

5.1. Mục tiêu nâng cao tỷ lệ bao phủ BHXH đến năm 2025

Dựa trên đà tăng trưởng hiện có và tiềm năng của địa phương, BHXH huyện Văn Bàn cần đặt ra mục tiêu cụ thể về số lượng người tham gia BHXH tự nguyện đến năm 2025. Kế hoạch này cần được xây dựng chi tiết, phân bổ chỉ tiêu cho từng xã, thị trấn, gắn với trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và các đại lý thu. Để đạt được mục tiêu, cần tập trung vào các nhóm đối tượng tiềm năng chưa được khai thác hiệu quả, như lao động trong lĩnh vực dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và những người vừa hết tuổi lao động nhưng chưa đủ năm đóng BHXH bắt buộc. Việc xác định rõ mục tiêu sẽ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, tạo động lực để toàn hệ thống nỗ lực phấn đấu, góp phần hoàn thành mục tiêu chung về an sinh xã hội tại Lào Cai.

5.2. Các khuyến nghị chính sách cho an sinh xã hội bền vững

Từ thực tiễn triển khai tại Văn Bàn, cần có những khuyến nghị chính sách ở cấp cao hơn. Đối với Chính phủ và BHXH Việt Nam, cần nghiên cứu điều chỉnh mức hỗ trợ của nhà nước cho BHXH tự nguyện cho phù hợp hơn, đồng thời xem xét mở rộng các chế độ thụ hưởng (như ốm đau, thai sản) để tăng tính hấp dẫn của chính sách. Đối với cấp tỉnh và huyện, cần có cơ chế hỗ trợ thêm từ ngân sách địa phương cho các đối tượng thuộc hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số. Cải cách thủ tục đăng ký BHXH tự nguyện theo hướng đơn giản hóa, ứng dụng công nghệ thông tin và giao dịch điện tử sẽ tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân khi tham gia. Những điều chỉnh chính sách này sẽ là đòn bẩy quan trọng, tạo ra đột phá trong việc phát triển BHXH tự nguyện một cách bền vững.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Cơ sở lý luận về phát triển BHXH tự nguyện 1. Lý luận chung về BHXH tự nguyện 1. Các khái niệm BHXH Theo Luật BHXH (2014) thì “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”.

BHXH bắt buộc Luật BHXH (2014) quy định: “BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và người sử dụng lao động phải tham gia”. BHXH tự nguyện Luật BHXH (2014) quy định: “BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất”.Như vậy, BHXH tự nguyện chỉ có thể được hình thành và thực hiện trên cơ sở: Một là, có nhiều NLĐ tham gia và có thể cả người sử dụng lao động tự nguyện tham gia với điều kiện: có nhu cầu thực sự về BHXH; có khả năng tài chính để đóng phí BHXH tự nguyện; có sự thống nhất với những quy định cụ thể về mức đóng, mức hưởng, quy trình thực hiện, phương pháp quản lý, sử dụng quỹ BHXH tự nguyện… Hai là, có tổ chức, cơ quan đứng ra thực hiện chế độ, chính sách BHXH tự nguyện như thu phí BHXH tự nguyện, quản lý quỹ BHXH tự nguyện, quản lý đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, thực hiện chi trả trợ cấp BHXH tự nguyện cho các đối tượng được thụ hưởng. Ba là, được Nhà nước bảo hộ và hỗ trợ khi cần thiết. Đặc điểm của BHXH tự nguyện 6 Theo Võ Lan Anh (2015), xuất phát từ bản chất của BHXH là quá trình tổ chức đền bù hậu quả của những rủi ro xã hội hoặc các sự kiện bảo hiểm, có thể thấy BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng về bản chất là một khoản bù đắp cho phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH.

Do vậy, đặc điểm của BHXH tự nguyện bao gồm: Thứ nhất, việc tham gia BHXH tự nguyện dựa vào ý chí của người tham gia. Do tính chất tự nguyện của loại BHXH này nên Nhà nước không bắt buộc NLĐ tham gia. Đây cũng là một trong những tiêu chí phân biệt giữa BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc. Khi không thuộc BHXH bắt buộc, NLĐ từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tham gia hoặc không tham gia BHXH tự nguyện.

Thứ hai, người tham gia BHXH tự nguyện tự lựa chọn mức đóng và phương thức đóng. Người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn mức đóng bằng 22% mức thu nhập tháng. Mức thu nhập tháng thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đóng. Mức lương cơ sở từ ngày 01/07/2019 là 1.000 đồng, dó đó, mức thu nhập tháng đóng BHXH tự nguyện tối đa là 29.

Không những vậy, phương thức đóng cũng được người tham gia lựa chọn một cách linh hoạt, có thể là đóng hàng tháng, 03 tháng, 06 tháng, 1 năm một lần hay đóng 1 lần cho những năm về sau…theo quy định của pháp luật. Thứ ba, được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng BHXH. Để khuyến khích NLĐ tham gia BHXH tự nguyện, tại Điều 14 Nghị định 134/2015/NĐ-CP có quy định cụ thể về vấn đề này. Cụ thể, Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng BHXH hàng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn như sau: – Đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo bằng 30%; – Đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ cận nghèo bằng 25%; – Đối với các đối tượng khác bằng 10%.

Thứ tư, người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. Người tham gia BHXH tự nguyện khi đủ 60 tuổi đối với nam; 55 tuổi đối với nữ và đủ 20 năm đóng BHXH trở lên thì được hưởng lương hưu. Đối với chế độ tử 7 tuất của người tham gia BHXH tự nguyện thì được cơ quan BHXH tự nguyện giải quyết hưởng trợ cấp mai táng, trợ cấp tuất theo quy định. Vai trò của BHXH tự nguyện Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2010), bản chất của BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện.

Từ bản chất đó, BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng có một số vai trò sau đây: Thứ nhất, hoạt động BHXH, BHXH tự nguyện một mặt đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng người tham gia đối với bản thân mình, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững. Thứ hai, thực hiện tốt chính sách BHXH, BHXH tự nguyện, nhất là chế độ hưu trí, góp phần ổn định cuộc sống của NLĐ khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động. Theo quy định của Luật BHXH, NLĐ tham gia đóng BHXH từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng. Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.

Cùng với sự phát triển kinh tế, mức lương hưu cũng không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội. Vào các thời điểm tăng mức lương tối thiểu chung cũng như việc xem xét chỉ số giá cả, Nhà nước đều có sự điều chỉnh lương hưu một cách hợp lý. Mức lương hưu không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung toàn xã hội tại thời điểm hưởng lương hưu đã bảo đảm cuộc sống của người nghỉ hưu, tạo sự an tâm, tin tưởng của người về hưu sau cả cuộc đời lao động. Tương tự như vậy, các quyền lợi về BHYT, về chế độ ốm đau, chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; mức trợ cấp tuất một lần.

cũng được cải thiện rõ rệt. Thứ ba, thực hiện chính sách BHXH, BHXH tự nguyện góp phần ổn định và 8 nâng cao chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của NLĐ trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển. BHXH tự nguyện xuất hiện, khiến cho mọi NLĐ làm việc ở các thành phần kinh tế, các ngành nghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chính sách BHXH. NLĐ tham gia BHXH, BHYT khi ốm đau sẽ được khám chữa bệnh và được quỹ BHYT chi trả phần lớn chi phí.

Khi NLĐ mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc làm hoặc gửi đi học nghề để có cơ hội tìm kiếm việc làm mới. Thứ tư, BHXH, trong đó có BHXH tự nguyện, là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm ASXH bền vững. Trên thị trường lao động, “tiền lương là giá cả sức lao động” được hình thành tự phát căn cứ vào quan hệ cung cầu, vào chất lượng lao động cũng như các điều kiện khung mà trong đó Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý thông qua những quy định về mức lương tối thiểu và những điều kiện lao động cần thiết. Quá trình hình thành tiền lương theo thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động và NLĐ là sự phân phối lần đầu và phân phối trực tiếp cho từng NLĐ.

Do vậy, NLĐ có tay nghề cao, có nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu của xã hội sẽ có thu nhập cao. Đó là sự hợp lý và khuyến khích làm giàu chính đáng. BHXH, BHYT đều được thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, có nghĩa là người tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, BHYT thì người đó mới được hưởng quyền lợi về BHXH, BHYT. Như vậy, nguồn để thực hiện chính sách là do NLĐ đóng góp, Nhà nước không phải bỏ ngân sách ra nhưng vẫn thực hiện được mục tiêu ASXH lâu dài.

Nguyên tắc của BHXH tự nguyện Các nguyên tắc của BHXH tự nguyện bao gồm: Một là, mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH. Điều này có nghĩa là không phải bất kỳ NLĐ nào tham gia đóng BHXH đều được hưởng BHXH. NLĐ cùng với người sử dụng lao động và nhà nước cùng tạo lập hình thành một quỹ BHXH độc lập và tập trung trong đó đa số những người đóng góp BHXH sẽ hỗ trợ cho số 9 những người có đủ điều kiện để hưởng trợ cấp BHXH theo nguyên tắc “ lấy số đông bù số ít”. Nghĩa là chỉ những người gặp phải những rủi ro đáp ứng đủ điều kiện mới được hưởng BHXH, thường là khi gặp phải những rủi ro sẽ mang lại những khó khăn lớn vượt xa so với khả năng kinh tế của NLĐ, trên cơ sở chia sẻ rủi ro của những người cùng tham gia đóng BHXH thì khoản phí của những người tham gia BHXH mà không gặp phải rủi ro sẽ được bù đắp cho những người gặp rủi ro khác.

Hai là, mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của NLĐ. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do NLĐ lựa chọn.Cụ thể, mức đóng góp và thời gian đóng góp được sử dụng làm căn cứ để đối tượng đóng bảo hiểm được hưởng BHXH, tức đóng góp đến đâu thì mức thụ hưởng tới đó. BHXH là một hình thức phân phối phổ biến tổng thu nhập quốc dân BHXH phải dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ (nguyên tắc phân phối theo lao động).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ