CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm an ninh phi truyền thống Thuật ngữ an ninh phi truyền thống (ANPTT) bắt đầu được nói đến vào những năm 80 của thế kỷ XX, sử dụng nhiều trong thập niên đầu thế kỷ XXI, an ninh phi truyền thống trở thành một thuật ngữ phổ biến trong các hội nghị, diễn đàn khu vực, quốc tế, hợp tác song phương, đa phương giữa các quốc gia, các tổ chức cũng như các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế đương đại.
Ở phương Tây, các nhà nghiên cứu cho rằng an ninh quốc gia không nên hiểu theo nghĩa hẹp là bảo vệ nhà nước trước những cuộc tấn công quân sự qua biên giới lãnh thổ mà an ninh quốc gia còn phải đối mặt với những thách thức phi truyền thống, bao gồm: khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức, an ninh môi trường, di cư bất hợp pháp, an ninh năng lượng và an ninh con người. Hoặc quan niệm khác: ANPTT là thách thức đối với sự tồn vong và thịnh vượng của các quốc gia, dân tộc, xuất hiện chủ yếu trong các nguồn gốc phi quân sự, chẳng hạn như thay đổi khí hậu, suy thoái môi trường xuyên biên giới và nguồn tài nguyên cạn kiệt, bệnh truyền nhiễm, thiên tai, di cư bất hợp pháp, tình trạng thiếu lương thực, buôn lậu, buôn bán ma tuý và các hình thức khác của tội phạm xuyên quốc gia…8 Theo giới học giả Trung Quốc, các vấn đề an ninh phi truyền thống ở Trung Quốc hiện nay được chia thành năm nhóm: Một là, vấn đề an ninh liên quan đến phát triển bền vững (sustainable development), bao gồm bảo vệ môi trường, phát triển tài nguyên, môi trường sinh thái toàn cầu và kiểm soát phòng chống dịch bệnh. Hai là, các mối đe dọa an ninh đến sự ổn định khu vực và quốc tế (regional and international stability), bao gồm an ninh kinh tế, an ninh xã hội, quyền con người và người tị nạn. Ba là, tổ chức tội phạm xuyên quốc gia (transnational organized crimes) bao gồm cả buôn người và buôn bán ma túy.
Bốn là, tổ chức tồn tại ngoài nhà nước/phi quốc gia (non- state/nation organizations) thách thức trật tự quốc tế, lớn nhất là sự đe dọa của khủng bố quốc tế. Năm là, vấn đề an ninh gây ra bởi phát triển công nghệ và toàn cầu hóa, bao 8 http://bchqsthuathienhue.vn/quoc-phong-quan-su/cong-tac-dang-cong-tac-chinh-tri/chuyen-de-giao-duc- chinh-tri-nam-2021.html 9 gồm cả an ninh mạng, an ninh thông tin và an ninh kỹ thuật di truyền (genetic engineering security).9 Theo đó, có thể hiểu ANPTT là một loại hình an ninh xuyên quốc gia đối lập với an ninh quân sự, do những yếu tố phi chính trị và phi quân sự gây ra, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, an toàn và phát triển của con người. Khái niệm an ninh con người Về khái niệm an ninh con người, sau chiến tranh lạnh kết thúc, trên thế giới xuất hiện nhiều nguy cơ mất an ninh mới, yêu cầu phải có được những ý tưởng và sáng kiến mới để giải quyết những vấn đề an ninh ngày càng tăng. Năm 1991, sáng kiến Stockholm về một nền quản trị và an ninh toàn cầu đưa ra lời kêu gọi vì “một trách nhiệm chung trong những năm 1990”.
Kêu gọi này có phần trùng với quan điểm của Albert Einstein năm 1945 khi ông cho rằng: “Chúng ta ở một mức độ nào đấy, có thể nói con người là văn minh khi và chỉ khi việc tạo ra và duy trì một điều kiện sống tươm tất cho con người được mọi người và tất cả mọi quốc gia trên thế giới thừa nhận như một nghĩa vụ chung”. Lời kêu gọi này đề cập đến những thách thức an ninh hơn là sự thù địch về những vấn đề quân sự, chiến tranh, bàn về một “khái niệm an ninh rộng hơn bao gồm cả việc đối mặt với những hiểm họa là hệ quả của sự phát triển, hủy hoại môi trường, tăng trưởng và chuyển dịch dân số, và sự chậm tiến trong các vấn đề dân chủ”. Năm 1994, báo cáo của Ủy ban về quản trị toàn cầu có tên “Láng giềng toàn cầu của chúng ta” (Our Global Neighborhood) đã nhắc lại sáng kiến Stockholm về an ninh: “Khái niệm an ninh toàn cầu cần phải được mở rộng từ trọng tâm là an ninh quốc gia để bao hàm cả an ninh cho con người và an ninh của cả trái đất”. Đó là ý tưởng ban đầu về an ninh con người, và khái niệm an ninh con người thật sự xuất hiện vào đầu những năm 1990 trong Báo cáo phát triển con người năm 1994 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (United Nations Development Program – UNDP) mà tác giả là Manbub ul Haq – nhà kinh tế học và là người đưa ra chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc (the human development index – HDI).
Nỗ lực phát triển con người đặt trọng tâm của tư tưởng về phát triển và những chính sách liên quan là sự bảo vệ cho cá nhân con người chứ không đơn thuần là sự phát triển kinh tế vĩ mô. Báo cáo phát 9 Wang Yong (2005) East Asia Community and Non traditional Security - A Proposal from China, Waseda University, Tokyo, Japan, September 23 - 25, 2005. 10 triển con người năm 1994 xác định an ninh con người là sự an toàn của con người trước những đe dọa triền miên và sự bảo vệ con người trước những biến động bất thường tổn hại đến cuộc sống thường ngày. Nội hàm của khái niệm an ninh con người năm 1994 bao gồm 7 thành tố: kinh tế (bảo đảm việc làm và thu nhập), lương thực (không bị thiếu ăn), sức khỏe (không bị đe dọa bởi dịch bệnh), môi trường (không bị ô nhiễm về không khí, nguồn nước), an toàn cá nhân (không bị đe dọa, bắt bớ, giam cầm), an ninh cộng đồng (duy trì bản sắc văn hóa của dân tộc) và môi trường chính trị (bảo đảm quyền tự do cơ bản của con người về dân sự, chính trị).
An ninh con người có các đặc điểm: 1) Xác định con người là trung tâm, 2) An ninh con người có tính phổ biến, 3) Có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố cấu thành và 4) Thể hiện tính chủ động, tích cực của các chủ thể. Khi nghiên cứu về an ninh phi truyền thống, tác giả Hoàng Đình Phi có nêu ra một số lĩnh vực an ninh doanh nghiệp trong đó tác giả có đề cập đến an ninh con người của doanh nghiệp (an ninh nhân sự). Theo tác giả thì an ninh con người trong doanh nghiệp được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người hay nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Trong đó, mục tiêu chính của việc đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp là việc phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững.
Điều này sẽ góp phần đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp trước các mối đe dọa như: Mất an toàn lao động; mâu thuẫn, xung đột, đình công, phá hoại; đối thủ câu nhân tài; nội gián. Khái niệm nguồn nhân lực Để tiến hành các hoạt động sản xuất vật chất cần phải có những yếu tố nhất định. Các yếu tố của sản xuất được biểu hiện dưới dạng các nguồn lực. Các nguồn lực cơ bản của hoạt động sản xuất bao gồm: tư liệu sản xuất và sức lao động.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất vật chất trên cơ sở ứng dụng những thành tựu của khoa học – công nghệ, các nguồn lực này không ngừng phát triển và được nghiên cứu phân tích trên nhiều phương diện khác nhau, từ đó hình thành những khái niệm mới bổ sung cho các nguồn lực của sản xuất vật chất như nguồn vốn, nhân lực, khoa học – công nghệ… Vì vậy, có thể khẳng định rằng, nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực, là nguồn lực giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của hoạt động sản xuất vật chất. Nguồn là nơi phát sinh, cung cấp. Nhân lực là sức của con người được thể hiện ở ba khía cạn: một là, sức lực cơ bắp (thể lực); hai là trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được vận 11 dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực); ba là tâm lực (phẩm chất đạo đức, nhân cách, thái độ, phong cách làm việc…). Như vậy, nguồn nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó gồm ba yếu tố có quan hệ biện chứng với nhau là thế lực, trí lực, tâm lực và nó là nơi phát sinh, nơi cung cấp sức của con người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất xã hội.
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới (Word Bank), nguồn nhân lực là toàn bộ tiềm năng của con người bao gồm trí lực, tâm lực và thể lực mà mỗi cá nhân sở hữu. Trong khi Liên hợp quốc quan niệm: Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước. Trong khi đó, tổ chức Lao động quốc tế (ILO) có quan niệm rộng hơn và cụ thể hơn khi cho rằng: nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
Như vậy, có thể nói nguồn nhân lực ở đây chính là lực lượng lao động gồm những người thực tế đang có việc làm và cả những người thất nghiệp. Có thể thấy, hiện nay vẫn có những cách quan niệm nhau về nguồn nhân lực, một quan niệm rộng đó chính là đồng nhất nguồn nhân lực với nguồn lực con người, quan niệm hẹp hơn xem xét nguồn nhân lực với tư cách là nguồn lao động. Ở giới hạn phạm vi nghiên cứu tác giả tiếp cận với khái niệm hẹp hơn. Với cách tiếp cận này, tác giả cho rằng: Nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực, trí lực và tâm lực tồn tại trong lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, một địa phương đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất của cải vật chất và tinh thần nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của đất nước.
Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực được coi là một bộ phận của dân cư, bao gồm những người trong độ tuổi lao động. Liên Hợp Quốc định nghĩa: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”.