Chương I: Cơ sở lý luận sự gắn bó của người lao động trong tô chức Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Thực phẩm XNK- Lam Sơn 6.Tổng quan tài liệu nghiên cứu “Sự gắn bó của nhân viên đối với tổ chức” là một trong những chủ đề được rất nhiều học giả trong nước và trên thế giớ quan tâm khi nghiên cứu về hành vi tổ chức. Ngày nay, sự thừa nhận phổ iến sự gắn bó của nhân viên có ở các khía cạnh sau: Nhóm nhà nghiên cứu sự gắn bó của nhân viên ở khía cạnh “sự (hóa mãn và gắn bó công việc của người lao động "trong báo cáo nghiên cứu của xã hội để quản lý nguồn nhân lực (SHRM, 2013) thì trong bài báo cáo cũng nêu ra được 8 lĩnh vực có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn và gắn bó công việc bao gồm phát triển nghề nghiệp, mối quan hệ với quản lý, khuyến khích, lợi ích, môi tường làm việc, điều kiện gắn bó, quan điểm gắn bó, hành vi gắn bó. Trong, đó 5 nhân tố chính tạo sự gắn bó là mối quan hệ với đồng nghiệp, đặc điểm công việc, cơ hội sử dụng kỹ năng hoặc năng lực, đóng góp công việc vào. mục tiêu của tổ chức, mối quan hệ với giám sát (SHRM, 2014).
Sự thỏa mãn thường đo lường cùng với sự gắn bó. Sự thỏa mãn công việc có thể là nhân tố cho các nhân tố khác (Kim et at 1996) xem Gaertner 1999)) có ảnh hưởng đến sự gắn bó của cá nhân với tổ chức. Thang đo mức độ thỏa mãn công việc nỗi tiếng trên thế giới là chỉ số mô tả công việc JDI ( Job Discriptive Index) của Smith et al (1969) bao gồm 5 khía cạnh: bản chất công việc, cơ hội đảo tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp và tiền lương. Giá trị độ tin cậy của IDJ được đánh giá rất cao trong cả thực tiễn lẫn lý thuyết (Price Mayer & Schoorman 1992-1997).
Tran Kim Dung (2006) điều chỉnh vào điều kiện Việt Nam cho rằng đối với nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, các tổ chức sẽ cáo đưa ra những thông số cụ thê những nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó của nhân viên. Nhóm tác giả nghiên cứu “sự gắn bó của nhân viên với hiệu quả của tổ chức” với tô chức của IDS(2007). Bài nghiên cứu chứng tỏ được mối liện hệ giữa gắn bó với hiệu quả tô chức như là: năng suất của nhóm nhân viên gắn bó vượt 20% so với mức năng suất bình quân (Conferen Booard, 2006). Tỷ lệ rời tổ chức của nhóm nhân viên gắn bó ít hơn 87% so với tỷ lệ rời tổ chức.
Những nhân viên gắn bó it bị Stress hơn (CIPD,2007). Điều này nói lên rằng gắn bó của nhân viên là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của tô chức, đồng thời tổ chức cũng có ảnh hưởng tích cực đến sự gắn bó của nhân viên. Có múi liên hệ chặt chẽ giữa mức độ cao của sự gắn bó với hành vi nôi trội hiệu quả. Purcell và các cộng, sự (2003) đã thực hiện các nghiên cứu theo định hướng này và đã đi đến luận là: Các thực hành liên quan đến thành tích phát huy tác dụng khi có xuất hiện các hành vi nỗi trội tích cực.
Hành vi nồi trội xuất hiện khi có đủ một số lượng nhất định những cá nhân cam kết với tổ chức và khi họ cảm thấy được thúc đẩy và khi họ có được sự thỏa mãn công việc cao. Sự cam kết, sự thúc đây và thỏa mãn công việc và nhất là khi nó cùng kết hợp với nhau là điều kiện tốt cho ứng dụng các chính sách nguồn nhân lực. Trong bài nghiên cứu đánh giá về chủ đề “Employee Engagement — A review of current research and its implication” sự gắn bó của nhân viên của các nhà nghiên cứu trước như Deci và Ryan, Purcell, Robinson cũng nhấn mạnh rằng sự gắn bó của nhân viên chỉ có ý nghĩa nếu có một sự chưa sẻ chân thành về trách nhiệm giữa quản lý và người lao động về các vấn đề Purcell et al (2003). Trong mô hình mà Robinson (2004) đưa ra những nhân tố tác động đến sự gắn bó của nhân viên dựa trên các yếu tố phát triển nghề nghiệp bản thân, quản lý trực tiếp, hiệu suất thực hiện công việc, giao tiếp, cơ hội phát triển nghề nghiệp, lương, thưởng và những lợi ích, đồng nghiệp, thỏa mãn công việc, môi trường làm việc những nhân tố này cũng được nhiều nhà nghiên cứu đã ghi nhận áp dụng và bổ sung thêm nhiều nhân tố khác.
Mục đích nghiên cứu chung của đề tài là nghiên cứu các biến số ảnh hưởng như thế nào tới sự gắn bó của nhân viêc theo theo mối liên hệ dương hay âm của các nhân tố. Theo Penna báo cáo trong bài nghiên cứu (2007) đã đưa ra mô hình “//£ thống cắp bậc của sự gắn kết" mà phần cần của Maslow mô hình phân cấp là tại nơi làm việc có khả năng sẽ là nơi mang lại giá trị sử dụng lao động và người lao động xích lại gần nhau vì lợi ích của cả hai. Đó là nơi tạo nhân viên có cảm giác cộng đồng, không gian để được là chính mình và có cơ hội để đóng góp, nơi họ tìm thấy ý nghĩa trong công việc. Khi một nhân viên thoả mãn được các nhu cầu cơ bản, sau đó các nhân viên trông đến cơ hội phát triển, khả năng thăng tiến và sau đó lãnh đạo phong cách sẽ được giới thiệu vào tổ hợp trong mô hình.
Cuối cùng, khi tất cả các yếu tố trên được đáp ứng nguyện vọng cấp dưới thì nhân viên trông đến một sự liên kết có giá trị ý nghĩa, được hiển thị bằng một cảm giác thực sự của kết nối, một mục đích chung và ý thức chia sẻ về ý nghĩa trong công việc. Các BlessingWhite (2006) nghiên cứu đã tìm thấy rằng gần hai phần ba của (60%) nhân viên được khảo sát muốn nhiều cơ hội phát triển về phía trước hơn là hài lòng với công việc hiện tại của họ. Từ nghiên cứu này chỉ ra rằng những nhân tổ then chốt tạo nên mô hình của sự gắn bó. Tại Việt Nam rất nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu các nhân tố gắn bó.
của nhân viên đối với tổ chức. Trong bài báo khoa học phát triển kinh tế số 264 tháng 12/2012 với đề tài “sự gắn bó của nhân viên đối với công ty du lich Khánh Hòa” của tác giả Hồ Huy Tựu và Phạm Hồng Liêm. Trong mô hình được đo lường bởi các thang đo đã có và được kiểm định qua các nghiên cứu của thế giới. Cụ thể, 3 thành phần của sự gắn bó đã được Trần Kim Dung (2006) điều chỉnh vào điều kiện Việt Nam bao gồm 9 biểu hiện: (1) sự nỗ lực,(2) niềm tự hào, (3) lòng trung thành, (4) Sự trao quyền về khía cạnh cấp trên trao quyền cho nhân viên ra quyết định và thực hiện công việc, tin vào khả năng ra quyết định và phán xét của nhân vién ( Hartline & Ferrell, 1996, tr59).(6) Sự hỗ trợ của tổ chức về sự hỗ trợ của cấp trên, giao tiếp giữa nhân viên và cấp trên, sự giúp đỡ của đồng nghiệp, sự chia sẻ và trông cậy vào.
Kết quả cho thấy có ba thành phần của sự gắn bó ( nỗ lực, tự hào, trung thành) của nhân viên chịu tác động có ý nghĩa thông kế của sự hài lòng công việc, phù hợp mục tiêu, kiến thức, hỗ trợ của tô chức, và thương hiệu của tô chức. Trong tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh tập 29 số 4 (2013) với đề tài “Quản trị nguôn nhân lực và sự gắn kết của người lao động với doanh nghiệp” của tác giả Phạm Thế Anh, Nguyễn Thị Hồng Đào. Mục tiêu của đề tài cho thấy cơ hội phát triển nghề nghiệp, chế độ đãi ngộ lương thưởng và hệ thống bản mô tả công việc là 3 nhân tố quan trọng tác động cùng chiều đến sự gi với doanh nghiệp. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, một số giải pháp được đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực và nâng cao sự gắn bó của người lao động với doanh nghiệp Trong bài nghiên cứu của TS Đỗ Phú Trần Tình và CN.
Nguyễn Văn Niên & Nguyễn Thị Diệu Hiền với tên đề tài “Phản tích các nhân tố ảnh *hưởng đến sự gắn bó lâu dài của nhân viên trẻ với doanh nghiệp” Nghiên cứu đã phát hiện ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó lâu dài của nhân viên đối với doanh nghiệp là: cơ hội thăng tiến, chính sách khen thưởng và phúc lợi, quan hệ với lãnh đạo, điều kiện làm việc và mức độ phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp. Trong đó, cơ hội thăng tiến là yếu tố tác động mạnh nhất. Tác giả nghiên cứu dựa trên lý thuyết cô điển về sự động viên được FW. Taylor (1915) cho rằng đảm bảo sự động viên nhân viên nhà quản trị phải tìm ra cách tốt nhất để dạy cho họ công việc, và dùng các kích thích về kinh tế như tiền lương và tiền thưởng để động viêc nhân viên làm việc.
Albraham Maslow (1943) lập luận để động viên nhân viên, nhà quản trị tìm hiểu nhu cầu của nhân viên và tình cách thỏa mãn các nhu cầu đó. Lý thuyết của Herzberg (1976) được xây dựng trên cơ sở kiến thức thực tế của người lao động. Lý thuyết bản chất con người của Douglas Mc. Gregor (1956) chỉ ra bản chất của cong người để xây dựng lên các yếu tố kích thích bằng vật chất.
Kết quả có được từ nghiên cứu là một gợi ý quan trọng cho các đơn vị trong việc xây dựng các chiến lược và kế hoạch phù hợp nhằm duy trì tốt hơn nguồn nhân lực trẻ cho đơn vị. Hầu hết những nghiên cứu trên đều quan tâm dến những yếu tổ ảnh hưởng đến sự gắn bó của nhân viên tới tổ chức, những đặc điểm về giới tính, độ tuổi, độ tuổi thâm niên công tác. Chính vì thế, luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu về sự gắn bó của nhân viên tại công ty Cổ phần Thực Phẩm Xuất ing Nhập Khâu Lam Sơn, một trong những công ty sản xuất có quy mô. thời, luận văn cũng sẽ làm rõ nhân tố khác biệt có tác động đến sự gắn bó của người lao động.
Từ đó, công ty sẽ có những chính sách nhân sự phù hợp với từng nhóm nhân viên cụ thể. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN SU' GAN BO CUA NGUOI LAO DONG TRONG TO CHUC 1. TONG QUAN VE SU GAN BO CUA NHAN VIEN TRONG TO CHỨC Quan niệm về gắn bó với doanh nghiệp và sự ảnh hưởng của nó đến các.