phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng chính. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực. Nội dung chƣơng này sẽ trình bày các khái niệm về nguồn nhân lực, vai trò và ý nghĩa của nguồn nhân lực, các nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển nguồn nhân lực 3 và những kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của công ty Saigon Precision tại khu chế xuất Linh Trung quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Chƣơng này sẽ phân tích hoạt động phát triển nguồn nhân lực của Công ty Saigon Precision tại khu chế xuất Linh Trung quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu là tìm ra những ƣu nhƣợc điểm trong công tác phát triển nguồn nhân lực công ty hiện nay. Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực của công ty Saigon Precision tại khu chế xuất Linh Trung quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Vận dụng các lý thuyết đã trình bày ở chƣơng 1 và những vấn đề tồn tại của Công ty Saigon Precision tại khu chế xuất Linh Trung quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh đã đƣợc xác định ở chƣơng 2.
Luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển nguồn nhân lực để thực hiện mục tiêu chung của công ty. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm về nguồn nhân lực 1. Khái niệm Tùy theo cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau mà có cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực.
Về phía cạnh vĩ mô thì nguồn nhân lực là dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Tổng cục Thống kê khi tính toán nguồn nhân lực xã hội còn bao gồm cả những ngƣời ngoài tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Ở góc độ vi mô trong doanh nghiệp thì nguồn nhân lực là lực lƣợng lao động của từng doanh nghiệp, là số ngƣời có trong danh sách của doanh nghiệp do doanh nghiệp trả lƣơng. “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con ngƣời. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trƣờng xung quanh”. Trần Kim Dung, Quản trị nguồn nhân lực (NXB Thống kê, 2011), trang 1 Từ hai giác độ vĩ mô và vi mô cho thấy nguồn nhân lực là tất cả các tiềm năng của con ngƣời trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp). Tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác tạo ra giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho tổ chức của những ngƣời lao động. Do vậy khi nói về nguồn nhân lực thì đó là nguồn nhân lực doanh nghiệp Trong sự phát triển lực lƣợng sản xuất những năm cuối của thế kỷ XX đã đem lại nhiều viễn cảnh to lớn, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo điều kiện khai thác toàn diện những tiềm năng thể lực và trí lực của con ngƣời. Trong hoạt động 5 kinh tế ngƣời ta thấy hiện nay có sự chuyển từ những thông số vật chất bên ngoài con ngƣời sang những vấn đề bên trong con ngƣời để không ngừng nâng cao chất lƣợng sức lao động. Những hình thức sử dụng linh hoạt nguồn lực tiềm năng của con ngƣời, kết hợp với sự nỗ lực chung của tập thể công nhân đồng thời quan tâm đến các yếu tố văn minh thẩm mỹ của sản xuất và chất lƣợng công việc, là những vấn đề quan tâm của các nhà sản xuất kinh doanh hiện đại.
Quản trị nguồn nhân lực là sự kết hợp của hai vấn đề: khoa học quản trị và nguồn nhân lực. Quản trị là quá trình làm cho những hoạt động đƣợc hoàn thành đạt hiệu quả cao bằng cách thông tin qua ngƣời khác. Việc quản trị có sự phối hợp giữa tính khoa học và nghệ thuật, đạo đức. Khác với phƣơng diện khoa học, quản trị gia thành công phải là ngƣời nắm vững kiến thức và kỹ năng quản trị.
Do vậy, về mặt nghệ thuật, quản trị thành công là ngƣời có những năng lực nhƣ óc thông minh, tài thuyết phục, tài lôi cuốn ngƣời khác làm theo ý mình. Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời, gồm thể lực và trí lực. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con ngƣời là không bao giờ thiếu hoặc lãng quên, và có thể nói gần tới mức cạn kiệt; còn mặt khai thác các tiềm năng trí lực của con ngƣời cũng đƣợc chú ý, nhƣng còn ở mức mới mẻ, không bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn trong mỗi con ngƣời. Nguồn nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành từ các cá nhân, đƣợc liên kết, ràng buộc với nhau theo mục tiêu nhất định của tổ chức đề ra.
Trong một tổ chức, các cá nhân có vai trò, năng lực, đặc điểm và tiềm năng phát triển rất khác nhau; muốn liên kết họ lại cần phải có một nhà quản trị tài ba và có nghệ thuật quản trị con ngƣời. Quản trị nguồn nhân lực là một bộ phận không thể thiếu của quản trị sản xuất kinh doanh, nó nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lƣợng và chất lƣợng ngƣời làm việc cần thiết cho tổ chức để đạt mục tiêu đề ra; tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phƣơng pháp tốt nhất để con ngƣời có thể đóng góp nhiều sức lực cho các mục tiêu của tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân con ngƣời. 6 Do đó : “ Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con ngƣời của một tổ chức nhằm đạt kết quả tối ƣu cho cả tổ chức lẫn nhân viên ”. Quản trị nguồn nhân lực khác biệt so với quản trị nhân sự về bản chất hay chỉ là sự nhấn mạnh, sự hoàn thiện hay sự phát triển lên của quản trị nhân sự.
Vấn đề này hiện nay vẫn còn là đề tài tranh luận của các nhà khoa học lẫn những ngƣời hoạt động thực tiễn. Nhìn chung, hiện nay trên thế giới có ba quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa quản trị nhân sự và quản trị nguồn nhân lực. Phân loại Ngoài một số cách phân loại nguồn nhân lực thƣờng dùng nhƣ phân loại theo quy mô, cơ cấu và chất lƣợng. Khi chuyển sang nền kinh tế tri thức lực lƣợng lao động đƣợc phân loại theo hƣớng tiếp cận công việc, nghề nghiệp của ngƣời lao động.
Theo đó lực lƣợng lao động đƣợc chia thành lao động thông tin và lao động phi thông tin. Lao động thông tin lại đƣợc chia ra 2 loại: lao động tri thức và lao động dữ liệu. Lao động dữ liệu (thƣ ký, kỹ thuật viên v.) làm việc chủ yếu với thông tin đã đƣợc mã hóa, trong khi đó lao động tri thức phải đƣơng đầu với việc sản sinh ra ý tƣởng hay chuẩn bị cho việc mã hóa thông tin. Lao động quản lý nằm giữa hai loại hình này.
Lao động phi thông tin đƣợc chia ra lao động sản xuất hàng hóa và lao động cung cấp dịch vụ. Lao động phi thông tin dễ dàng đƣợc mã hóa và thay thế bằng kỹ thuật, công nghệ. Nhƣ vậy, có thể phân loại lực lƣợng lao động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hóa. Mỗi loại lao động này có những đóng góp khác nhau vào việc tạo ra sản phẩm.
hàm lƣợng tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lƣợng lao động trí thức, quản lý và phần nào của lao động dữ liệu. Mục tiêu và ý nghĩa của nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực – mục tiêu và ý nghĩa chính của sự phát triển Nguồn nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của những cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. 7 Nhân viên có năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội.
Các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đánh giá và đặt câu hỏi với hoạt động của các quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ và cả sự tác động của môi trƣờng xung quanh. Do đó, quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất, kinh doanh. Quản trị nguồn nhân lực hƣớng tới hai mục tiêu cơ bản: a.Tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả của tổ chức.Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên. Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp cho nhà quản trị đạt đƣợc mục đích, kết quả thông qua ngƣời khác.
Một quản trị gia có thể lập kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại, chính xác,v.v… nhƣng nhà quản trị đó vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển dụng ngƣời cho đúng việc, hoặc không biết cách khuyến khích nhân viên làm việc. Để quản trị có hiệu quả, nhà quản trị cần biết cách làm việc và hòa hợp với ngƣời khác, biết cách lôi kéo ngƣời khác làm theo mình. Nhiều khi các quản trị gia có thế mạnh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhƣng lại không đƣợc đào tạo hoàn chỉnh trong cách lãnh đạo nhân viên. Họ điều khiển giỏi và giành nhiều thời gian làm việc với các máy móc, trang bị kỹ thuật hơn làm việc với con ngƣời.