Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp than giữ vai trò huyết mạch trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp trực tiếp vào chuỗi sản xuất điện, xi măng, phân bón và hóa chất tại Việt Nam. Năm 2018, ngành than đạt sản lượng khai thác trên 38 triệu tấn than nguyên khai, ghi nhận mức tổng doanh thu 113.805 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế vượt 3.702 tỷ đồng. Tuy nhiên, hoạt động khai thác ngày càng phải chuyển sâu vào lòng đất xuống các mức âm sâu từ -150m đến -300m, khiến môi trường lao động trở nên nặng nhọc, độc hại và gia tăng nguy cơ rủi ro.

Thực tế này dẫn tới sự biến động mạnh mẽ về nhân sự khi quy mô lao động toàn ngành giảm từ 124.088 người năm 2016 xuống còn 110.088 người vào cuối năm 2018, tương đương mức giảm ròng 11,74%. Đứng trước yêu cầu đổi mới, nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Hoàn thiện chính sách phát triển bền vững nguồn nhân lực ngành than trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế và đẩy mạnh cơ giới hóa.

Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: Phân tích thực trạng thực thi chính sách nhân sự tại các doanh nghiệp ngành than; bóc tách các nhân tố khách quan và chủ quan chi phối hiệu quả sử dụng lao động; từ đó thiết lập hệ thống giải pháp phát triển nhân lực bền vững giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn 2035. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu giai đoạn 2016-2018 tại 20 đơn vị nòng cốt trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và Tổng công ty Đông Bắc. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc định hình giải pháp tối ưu hóa nguồn kinh phí đào tạo hơn 60 tỷ đồng mỗi năm, bảo đảm 100% việc làm ổn định và duy trì lực lượng lao động kỹ thuật nòng cốt cho ngành năng lượng Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển nguồn vốn con người của các nhà kinh tế học David Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbush, xác định nguồn nhân lực là tổng hòa của ba yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực. Trong môi trường khai khoáng đặc thù, nguồn nhân lực không chỉ được đo lường bằng số lượng cơ học mà quyết định bởi trình độ kỹ năng nghề nghiệp và mức độ cam kết gắn bó lâu dài. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng khung phân tích chính sách công của James Anderson nhằm đánh giá chính sách phát triển nhân lực như một tiến trình hành động có mục đích, bao gồm các mắt xích: hoạch định nhu cầu, tuyển dụng, đào tạo nâng cao và chính sách đãi ngộ duy trì. Quan điểm quản trị nhân sự của Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004) cũng được tích hợp để làm rõ mối quan hệ giữa hoạt động đào tạo với việc gia tăng năng suất lao động.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: chính sách phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nghề khai thác hầm lò, và phát triển bền vững nguồn nhân lực cấp ngành. Nguồn kinh phí đào tạo bình quân trên 60 tỷ đồng/năm cùng cơ cấu lao động kỹ thuật chiếm 68% được xem là các chỉ số định lượng cơ bản cấu thành mô hình nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thống kê lao động - tiền lương của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và Tổng công ty Đông Bắc giai đoạn 2016-2018. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu khảo sát và phỏng vấn chuyên sâu.
  • Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Mẫu khảo sát gồm 500 cán bộ công nhân viên tại 20 đơn vị đại diện (15 mỏ hầm lò lớn như Hà Lầm, Vàng Danh, Mông Dương, Khe Chàm; 2 công ty tuyển than Cửa Ông, Hòn Gai; 3 công ty chế biến và kinh doanh than). Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng với tỷ lệ chọn mẫu 30% tổng số cán bộ công nhân viên tại các đơn vị khảo sát, bảo đảm đại diện đầy đủ mọi nhóm chức danh từ lao động trực tiếp đến cán bộ quản lý.
  • Phương pháp phân tích: Dữ liệu định lượng từ thang đo Likert 5 mức độ (được hiệu chỉnh từ thang đo JDI của Smith và AJDI của Trần Thị Kim Dung) được làm sạch và xử lý trên phần mềm Excel và SPSS 16. Phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh và tổng hợp được ưu tiên nhằm lượng hóa mức độ hài lòng của người lao động đối với từng trụ cột chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2016-2018 đã chỉ ra bốn phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, quy mô lao động sụt giảm nhanh chóng do áp lực tái cơ cấu và điều kiện khai thác mỏ. Tổng số lao động toàn ngành giảm từ 124.088 người (năm 2016) xuống 116.760 người (năm 2017) và còn 110.088 người (năm 2018), tương đương giảm 14.000 người (giảm 11,74%). Lực lượng lao động trực tiếp sản xuất than giảm từ 84.785 người xuống 75.041 người, trong đó thợ lò giảm mạnh từ 76.537 người xuống 67.537 người.

Thứ hai, cơ cấu lao động theo chức danh chưa đạt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 05/NQ-TKV. Tỷ lệ lao động gián tiếp gồm cán bộ (dưới 14%) và nhân viên (dưới 19%) hầu như không có chuyển dịch đáng kể trong 3 năm, trong khi tỷ lệ công nhân trực tiếp chỉ dao động quanh ngưỡng 67,8% đến 68,16%, chưa tối ưu hóa được năng suất lao động xã hội.

Thứ ba, chất lượng chuyên môn chuyển biến tích cực ở khối cao đẳng nghề nhưng mất cân đối ở trình độ cao và có dấu hiệu già hóa cán bộ. Trình độ thạc sĩ và tiến sĩ tăng bình quân 2,5%/năm nhưng chỉ đạt 478 người vào năm 2018 (chiếm khoảng 0,43% tổng lao động). Đáng chú ý, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo từ cấp trưởng ban trở lên có độ tuổi trên 55 chiếm tới 29%. Khối công nhân học cao đẳng nghề tăng trưởng ấn tượng 7,37%/năm, đạt 3.759 người vào năm 2018.

Thứ tư, thu nhập bình quân tăng trưởng nhưng chưa tương xứng với mức độ hao phí sức lực ở độ sâu lớn. Tiền lương bình quân toàn ngành tăng từ 9,1 triệu đồng/người/tháng (năm 2016) lên hơn 10,7 triệu đồng/người/tháng (năm 2018). Riêng lao động khai thác hầm lò đạt mức 13,885 triệu đồng/tháng vào năm 2018, tăng 3,985 triệu đồng so với năm 2016.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm lao động bắt nguồn từ việc khai thác xuống sâu dưới mức -300m, nơi gia tăng áp lực địa chất, nhiệt độ và khí độc hại, khiến tỷ lệ thợ lò bỏ việc năm 2016 lên tới 9.985 người. Đến năm 2018, số người thôi việc đã giảm xuống còn 23,73% so với năm 2016 nhờ các chính sách tăng 10% lương cho thợ đào lò và đầu tư xe song loan, monoray đưa đón tận gương khấu. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Nam và Bùi Tuấn Tú (2012) khi khẳng định ngành khai khoáng luôn đối mặt với khủng hoảng thiếu hụt thợ kỹ thuật lành nghề nếu thiếu chính sách đãi ngộ vượt trội.

Các dữ liệu phân tích biến động nhân sự có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường, thể hiện rõ xu hướng cắt giảm nhân sự gián tiếp song hành cùng mức tăng trưởng tiền lương bình quân. Bảng cân đối nhân lực cũng minh chứng sự dịch chuyển tích cực từ thợ thủ công sang công nhân làm chủ công nghệ giá khung, cột thủy lực hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên mục tiêu quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2030 (tỷ trọng than hầm lò chiếm 65,37%), tác giả đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Tinh gọn bộ máy và chuyển dịch cơ cấu nhân lực: Ban lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và Tổng công ty Đông Bắc cần rà soát, cắt giảm tỷ lệ lao động gián tiếp xuống dưới mức 15% tổng biên chế vào năm 2025, ưu tiên bổ sung 100% định biên cho lực lượng thợ lò và kỹ sư vận hành công nghệ tự động hóa.
  • Cải cách chính sách tiền lương và phúc lợi đặc thù: Hội đồng thành viên ngành than phối hợp với Bộ Công Thương xây dựng cơ chế tiền lương gắn liền với độ sâu khai thác mỏ, nâng mức thu nhập cho thợ lò trực tiếp thêm 15% đến 20% trong giai đoạn 2020-2025; hoàn thiện 100% hạ tầng chung cư công nhân và phủ kín hệ thống vận chuyển cơ giới hóa trong hầm lò trước năm 2024.
  • Đổi mới công tác đào tạo và phát triển kỹ năng: Ba trường đào tạo nòng cốt (Cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm, Hữu Nghị và Công nghiệp Việt Bắc) cần đổi mới giáo trình, thực hiện tuyển sinh và đào tạo 10.000 học viên/năm; tối ưu hóa quỹ đào tạo trên 60 tỷ đồng/năm để cử các kỹ sư giỏi tu nghiệp tại Nhật Bản, Đức và Na Uy theo các thỏa thuận hợp tác quốc tế.
  • Trẻ hóa và quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý: Các cấp ủy Đảng ngành than thực hiện nghiêm Nghị quyết số 42 của Bộ Chính trị, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ cán bộ quản lý cấp trưởng ban trên 55 tuổi từ 29% xuống dưới 20% vào năm 2025, đồng thời thiết lập lộ trình bồi dưỡng chuyên môn tài chính, ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ nguồn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng:

  • Ban lãnh đạo và chuyên viên nhân sự ngành than: Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch nhân lực trung hạn 2020-2030, giúp TKV và Tổng công ty Đông Bắc điều chỉnh định biên và tối ưu hóa ngân sách đào tạo 60 tỷ đồng/năm.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội): Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách an toàn lao động, định mức tiền lương và chế độ bảo hộ đặc thù cho ngành khai khoáng hầm lò sâu dưới -300m.
  • Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học khối mỏ: Giúp các trường cao đẳng nghề Mỏ Hồng Cẩm, Hữu Nghị nắm bắt chính xác nhu cầu 10.000 học viên kỹ thuật mỗi năm để cập nhật chương trình giảng dạy sát với thực tiễn dây chuyền cơ giới hóa đồng bộ.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu quản lý công: Là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu định lượng JDI và xử lý số liệu khảo sát 500 mẫu bằng SPSS trong phân tích chính sách công cấp ngành.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến quy mô lao động ngành than giảm 11,74% giai đoạn 2016-2018 là gì? Sự sụt giảm 14.000 lao động bắt nguồn từ chủ trương tái cơ cấu tinh gọn tổ chức của ngành than và tác động từ điều kiện khai mỏ xuống sâu, khiến công việc trở nên độc hại và nặng nhọc hơn, dẫn đến làn sóng chuyển dịch việc làm của thợ mỏ.

Nghiên cứu sử dụng công cụ nào để đo lường mức độ hài lòng của 500 lao động? Tác giả đã sử dụng phiếu khảo sát 5 mức độ Likert phát triển dựa trên thang đo JDI của Smith và AJDI hiệu chỉnh, phân tích trên phần mềm SPSS 16 để đánh giá 5 khía cạnh: tuyển dụng, đào tạo, bố trí công việc, đánh giá và chính sách tiền lương.

Ngành than đã triển khai chính sách cụ thể nào để thu hút và giữ chân thợ mỏ hầm lò? Ngành than đã tăng 10% lương cho thợ khai thác đào lò, đưa mức lương bình quân hầm lò lên 13,885 triệu đồng/tháng năm 2018, đồng thời đầu tư xe song loan, monoray đưa đón công nhân và xây dựng nhà ở tập thể khang trang tại các mỏ.

Thực trạng già hóa đội ngũ cán bộ quản lý ngành than được phản ánh qua con số nào? Số liệu khảo sát chỉ ra rằng tỷ lệ cán bộ quản lý từ cấp trưởng ban trở lên có độ tuổi trên 55 chiếm tới 29%, trong khi tỷ lệ cán bộ có trình độ tiến sĩ và thạc sĩ toàn ngành chỉ đạt vỏn vẹn 0,43% (478 người năm 2018).

Ngân sách và chỉ tiêu đào tạo nguồn nhân lực của ngành than được phân bổ ra sao? Trung bình mỗi năm ngành than đầu tư trên 60 tỷ đồng cho công tác đào tạo, giao chỉ tiêu cho 3 trường cao đẳng nghề mỏ đào tạo khoảng 10.000 học viên/năm và liên kết đào tạo sau đại học với các tổ chức năng lượng tại Nhật Bản, Đức.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phát triển bền vững nguồn nhân lực và chu trình chính sách công áp dụng cho ngành công nghiệp khai khoáng đặc thù.
  • Phản ánh chân thực bức tranh biến động nhân lực của 110.088 lao động qua khảo sát 500 mẫu tại 20 đơn vị nòng cốt thuộc TKV và Tổng công ty Đông Bắc giai đoạn 2016-2018.
  • Nhận diện chính xác các rào cản phát triển, bao gồm tình trạng già hóa cán bộ lãnh đạo (29% trên 55 tuổi) và tỷ lệ lao động gián tiếp còn cao chưa tương thích với yêu cầu cơ giới hóa.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi với lộ trình rõ ràng đến năm 2030, tập trung vào nâng cao thu nhập thợ lò, hiện đại hóa công nghệ khai thác và đào tạo 10.000 học viên nghề mỗi năm.
  • Khẳng định phát triển nguồn vốn con người toàn diện trên cả ba phương diện thể lực, trí lực và tâm lực là chìa khóa duy trì năng lực cạnh tranh quốc gia.

Về lộ trình tiếp theo, các doanh nghiệp ngành than cần khẩn trương số hóa quy trình quản trị nhân sự trong giai đoạn 2020-2022 và hoàn thiện cơ chế tiền lương đặc thù trước năm 2025. Kính mời các nhà quản trị, nhà hoạch định chính sách và bạn đọc quan tâm tải toàn văn công trình nghiên cứu để cùng thảo luận, chia sẻ và ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý nguồn nhân lực.