Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN 1. Du lịch Theo luật du lịch 2017: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác [23]. Du lịch sinh thái Bên cạnh những loại hình du lịch truyền thống, du lịch sinh thái đang là một thị trường phát triển đầy tiềm năng, trở thành một công cụ phát triển bền vững quan trọng. Về cơ bản, du lịch sinh thái được định nghĩa là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên.
Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES) (trước đây được gọi là Hiệp hội Du lịch Sinh thái (TES)) đã đưa ra định nghĩa du lịch sinh thái đầu tiên năm 1991: "Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm đối với tại các khu vực tự nhiên, nơi môi trường được bảo tồn và và lợi ích của nhân dân địa phương được đảm bảo [55]. Năm 1999, Martha Honey, chuyên gia về du lịch sinh thái, trong cuốn sách “Du lịch sinh thái và phát triển bền vững: Ai sở hữu thiên đường” đã đưa ra định nghĩa: DLST là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh được bảo vệ với mục đích nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực ở quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ cho hoạt động bảo tồn, trực tiếp đem lại sự phát triển kinh tế và sự tự 7 quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hoá và quyền con người” [42]. Tháng 9/1999, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN) và Ủy Ban Kinh tế - Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức Hội thảo quốc tế về xây dựng khung chiến lược phát triển DLST làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, cũng như đẩy mạnh hợp tác phát triển DLST của Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế.
Hội thảo đã đưa ra định nghĩa: “DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, có tính giáo dục môi trường, đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương [15]. Mặc dù định nghĩa về du lịch sinh thái có nhiều sự khác nhau, nhưng những đặc trưng cốt lõi của du lịch sinh thái là: • Dựa vào thiên nhiên và các nền văn hóa bản địa, chủ yếu ở các khu bảo tồn thiên nhiên. • Chú trọng vào sự nâng cấp và duy trì thiên nhiên, quản lý tài nguyên bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực. • Hỗ trợ cho công tác bảo tồn thiên nhiên.
• Mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. • Nâng cao hiểu biết của du khách về môi trường thiên nhiên và văn hoá bản địa. • Đảm bảo cho nhu cầu thưởng thức của các thế hệ mai sau không bị ảnh hưởng bởi du lịch ngày hôm nay. Tài nguyên du lịch Theo Pirojnik, 1985: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hoá và lịch sử cùng các thành phần của chúng trong việc khôi phục và phát trển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch với nhu cầu thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế – kỹ thuật cho phép” [36].
Theo Luật Du lịch 2005, tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để 8 hình thành khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch và đô thị du lịch [23]. Từ định nghĩa trên, tài nguyên du lịch liên quan đến điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử - văn hóa, kinh tế-xã hội tự nhiên hoặc nhân tạo được đưa vào khai thác trong các hoạt động du lịch. Tài nguyên du lịch mang tính đặc thù cho từng khu vực, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, gắn với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản trong việc hình thành và phát triển du lịch.
Theo Tổ chức du lịch thế giới (WTO), tài nguyên du lịch gồm [36]: - Tài nguyên du lịch thiên nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như địa hình, khí hậu, nguồn nước, động thực vật, cảnh quan, hệ sinh thái. - Tài nguyên du lịch nhân văn: Bao gồm các di tích lịch sử - văn hoá, kiến trúc; các lễ hội; các đối tượng gắn liền với yếu tố dân tộc học; các làng nghề thủ công truyền thống; các đối tượng văn hoá, thể thao và hoạt động nhận thức khác. Tài nguyên du lịch sinh thái Tài nguyên du lịch sinh thái bao gồm tài nguyên du lịch thiên nhiên. Đặc biệt, du lịch sinh thái tập trung ở những khu vực được bảo vệ như khu dự trữ thiên nhiên, vườn quốc gia, khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên, khu bảo tồn loài/sinh cảnh, khu bảo tồn cảnh quan đất liền/biển.
Khu dự trữ sinh quyển “Dự trữ sinh quyển” được UNESCO đề xuất xướng trong chương trình “Con người và sinh quyển” vào năm 1973-1974. KDTSQ được trao tặng cho những khu vực bao gồm các hệ sinh thái trên cạn, biển và ven biển nhằm khuyến khích các giải pháp điều hòa việc bảo tồn ĐDSH với việc sử dụng bền vững [50] [51]. KDTSQ là nơi tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa con người và thiên nhiên, hài hoà giữa nhu cầu phát triển và mục tiêu bảo tồn. Các KDTSQ được xem là nơi lý tưởng để thử nghiệm và áp dụng các cách tiếp cận phát triển bền vững, tiếp cận hệ sinh thái, trong đó có sự hài hoà giữa con người và thiên nhiên, giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, qua đó đảm bảo các yếu tố cho sự phát triển bền vững.
Đặc điểm của KDTSQ Theo tổ chức con người và sinh quyển, khu dự trữ sinh quyển có một số đặc điểm sau [5][9][13][50][51]: 9 1. KDTSQ là những khu đất hoặc ven biển được bảo vệ trong đó con người là một thành phần của hệ thống. Tất cả cùng nhau tạo thành một mạng lưới toàn cầu được liên kết nhằm trao đổi thông tin khoa học. Mạng lưới các KDTSQ bao gồm các ví dụ tiêu biểu của quần xã sinh vật trên thế giới.
Mỗi KDTSQ bao gồm một hoặc nhiều loại sau: (i) KDTSQ là các ví dụ điển hình của các quần xã sinh vật tự nhiên. (ii) KDTSQ bảo tồn các quần thể ĐDSH độc đáo hoặc các khu vực có đặc điểm tự nhiên thú vị đặc biệt. Các khu vực đại diện này cũng có thể có các đặc điểm độc đáo về cảnh quan, hệ sinh thái và biến dị di truyền, như một quần thể của một loài quý hiếm trên thế giới thì sự đại diện và sự độc đáo của chúng có thể là đặc điểm của khu vực đó. (iii) KDTSQ có thể là ví dụ về cảnh quan hài hòa từ mô hình sử dụng đất truyền thống.
(iv) KDTSQ có thể là ví dụ về các hệ sinh thái đã được sửa đổi hoặc bị suy thoái có khả năng được phục hồi lại với điều kiện tự nhiên hơn. (v) KDTSQ nói chung gồm một vùng lõi không bị tác động, kết hợp với các khu vực xung quanh, nơi có thể thực hiện hoạt động kinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng không ảnh hưởng đến vùng lõi. Chức năng KDTSQ Chức năng bảo tồn • Đảm bảo việc bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái, loài và các biến dị di truyền. • Khuyến khích các hệ thống sử dụng tài nguyên truyền thống; • Hiểu về các thành phần và chức năng hoạt động của các hệ sinh thái; • Theo dõi những thay đổi tự nhiên và do con người gây ra trên quy mô không gian và thời gian; Chức năng phát triển • Thúc đẩy ở cấp địa phương, phát triển kinh tế mang tính văn hóa, xã hội và sinh thái bền vững.
• Phát triển các chiến lược nhằm cải thiện và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; Chức năng hỗ trợ 10 • Cung cấp hỗ trợ cho nghiên cứu, giám sát, giáo dục và trao đổi thông tin liên quan đến các vấn đề bảo tồn và phát triển địa phương, quốc gia và thế giới. • Chia sẻ kiến thức từ nghiên cứu khoa học thông qua giáo dục và đào tạo cụ thể. • Phát triển tinh thần cộng đồng trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên. Phát triển bền vững du lịch sinh thái tại KDTSQ 1.
Khái niệm phát triển bền vững du lịch tại KDTSQ Ủy ban Brundtland (trước đây là Ủy ban Thế giới về Môi trường và phát triển), định nghĩa: Phát triển bền vững là phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai [54]. Theo Wight 2002, phát triển bền vững là “Một quá trình thay đổi trong đó khai thác tài nguyên, định hướng đầu tư, phát triển công nghệ, và thay đổi thể chế nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai” [54]. Theo Jayawardena, Chandana 2003, phát triển bền vững là đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của của các thế hệ tương lai [39]. Ritchie và Crouch, 2003 đã tóm tắt định nghĩa về phát triển bền vững là nguyên tắc cơ bản để quản lí sự phát triển toàn cầu [44].
Từ những định nghĩa trên, về cơ bản, phát triển bền vững đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, trong đó, tập trung đáp ứng nhu cầu tối thiểu của những nước nghèo trên thế giới. Đồng thời, giới hạn khả năng đáp ứng của môi trường với nhu cầu của xã hội để không ảnh hưởng tới tương lai. Eber, 1992 đã định nghĩa Du lịch bền vững là du lịch mà ở đó, điều kiện hạ tầng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai, được người dân và cộng đồng ghi nhận, đóng góp vào lợi ích kinh tế của người dân địa phương [37]. Du lịch góp phần hỗ trợ nền kinh tế mà không tổn hại tới môi trường bản địa.