CHƯƠNG 1 7 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BĂNG THÔNG RỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1.Doanh nghiệp viễn thông và dịch vụ băng thông rộng của doanh nghiệp viễn thông 1.Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp viễn thông 1. Khái niệm Thuật ngữ viễn thông ra đời từ năm 1904, được ghép từ từ communication (liên lạc) với tiền tố télé (từ xa), được gọi là télécommunication. Nhiệm vụ của viễn thông là giúp con người truyền thông tin đi một cách chính xác, bảo mật tốt và nhanh chóng. Viễn thông cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho sự hình thành và phát triển của truyền thông.
Ngay từ thời xa xưa, viễn thông đã được biểu hiện ở việc con người sử dụng các tín hiệu khác nhau để truyền thông tin như tín hiệu cờ, tín hiệu đèn, tín hiệu khói, tín hiệu âm thanh như tiếng tù, tiếng còi hoặc tiếng trống. Còn ở thời hiện đại, viễn thông được biểu hiện qua quá trình hoạt động của các thiết bị điện như điện thoại, máy điện báo, máy telex và các hệ thống vô tuyến, sợi quang có kết hợp với internet và vệ tinh thông tin. ”Viễn thông là một trong những lĩnh vực có công nghệ biến đổi nhanh nhất trên thế giới. Hiện nay, công nghệ viễn thông phát triển theo hướng hội tụ công nghệ viễn thông, vô tuyến, vùng với các dịch vụ đa phương tiện.
Dịch vụ viễn thông bao gồm các dịch vụcơ bản như thoại, SMS, Data và các dịch vụ Giá trị gia tăng như SMS banking, xem phim trực tuyến,.” (Quốc Hội, 2009) Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020: ”Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định, doanh nghiệp được đăng ký kinh doanh theo đúng quy định, trình tự, thủ tục hồ sơ của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” ”Doanh nghiệp viễn thông là doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông. Doanh nghiệp viễn thông bao gồm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng và doanh nghiệp cung cấp 8 dịch vụ không có hạ tầng mạng” (Quốc Hội, 2009) 1. Đặc điểm của doanh nghiệp viễn thông Doanh nghiệp viễn thông có đầy đủ đặc điểm của doanh nghiệp, cụ thể như sau: Thứ nhất: Doanh nghiệp có tính hợp pháp: Khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp do các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được nhà nước công nhận sự tồn tại. Doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh bằng chính tài sản riêng của mình.
Thứ hai: Doanh nghiệp khi hoạt động phần lớn đều có những họat động kinh doanh hướng đến lợi nhuận hoặc thực hiện cung cấp dịch vụ thường xuyên, lâu dài. Thứ ba, doanh nghiệp hoạt động có tính tổ chức: Thể hiện qua cơ bộ máy tổ chức điều hành, cơ cấu nhân sự rõ ràng. Đồng thời doanh nghiệp thành lập luôn có trụ sở giao dịch, đăng ký theo quy định và có tài sản riêng để quản lý kèm theo tư cách pháp nhân. Ngoài các đặc điểm chung trên của doanh nghiệp, doanh nghiệp viễn thông có các đặc điểm riêng liên quan đến dịch vụ của doanh nghiệp viễn thông, cụ thể: - Sản phẩm của doanh nghiệp viễn thông là các dịch vụ viễn thông, dịch vụ viễn thông có tính vô hình Dịch vụ Viễn thông không phải là sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải là hàng hoá cụ thể mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận.
Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản xuất vật chất. Đặc điểm này làm cho chất lượng của dịch vụ viễn thông phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách hàng, và do đó nó không đồng nhất vì các khách hàng luôn có nhu cầu, có sở thích khác nhau hoặc có sự thoải mãn về dịch vụ khác nhau. Cũng do dịch vụ viễn thông viễn thông không phải là vật chất cụ thể tồn tại ngoài quá trình sản xuất nên không thể đưa vào cất giữ được trong kho, không thể thay thế được.
Chính vì vậy phải có những yêu cầu cao đối với chất lượng sản phẩm viễn thông. 9 - Quá trình kinh doanh viễn thông mang tính dây chuyền. Quá trình truyền đưa tin tức là quá trình diễn ra từ hai phía. Điểm đầu và điểm cuối của một quá trình truyền đưa tin tức có thể ở các xã khác nhau, các huyện khác nhau, các tỉnh khác nhau, và các quốc gia khác nhau.
Thông thường để thực hiện một đơn vị sản phẩm viễn thông cần có nhiều đơn vị sản xuất trong nước và có khi có nhiều đơn vị sản xuất ở các nước khác nhau cũng tham gia và trong quá trình đó người ta sử dụng nhiều loại thiết bị truyền thông khác nhau. - Tin tức được gửi - nhận nguyên vẹn trong quá trình sản xuất Với các sản phẩm dịch vụ viễn thông, khi nhận được yêu cầu sử dụng dịch vụ từ phía khách hàng, các thông tin thoại hoặc phi thoại được mã hoá sau đó được truyền đưa qua mạng viễn thông công cộng rồi được giải mã sau đó chuyển đến cho người nhận. Nội dung và hình thức của thông tin được người gửi đi ra sao thì người nhận nhận được như vậy, không hề có sự thay đổi. Trong quá trình này có tồn tại sự thay đổi chỉ là về vị trí không gian.
Hơn nữa, trong quá trình này, nội dung thông tin phải được đảm bảo an toàn tuyệt đối, không để mất mát sai lạc thông tin hay để lộ thông tin. Ngày nay, với việc hội tụ giữa tin học - Viễn thông đã tạo ra điều kiện cho ngành viễn thông có thể truyền đưa nhiều loại tin tức khác nhau thông qua việc sử dụng nhiều thiết bị, nhiều công nghệ khác nhau thì đặc điểm này càng được thể hiện rõ nét hơn. Đặc biệt là ảnh hưởng của đặc điểm này đến chỉ tiêu tốc độ ngày càng được nâng cao. - Quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ Chu kỳ sản xuất của dịch vụ viễn thông nói chung là bao gồm các khâu như là: Sản xuất - Phân phối - Trao đổi - Tiêu dùng.
Như vậy, tiêu dùng sản phẩm thông thường nằm sau quá trình sản xuất. Đối với các doanh nghiệp công nghiệp, sản phẩm sau khi sản xuất được đưa vào kho sau đó thông qua mạng lưới thương nghiệp thực hiện chức năng phân phối, trao đổi sau đó người tiêu dùng mới có thể tiêu dùng được.Còn trong hoạt động thông tin viễn thông quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ, trong nhiều trường hợp quá trình sản xuất trùng lặp với quá trình tiêu 10 thụ. Hay nói cách khác hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu thụ ngay trong quá trình sản xuất. - Tải trọng không đồng đều theo thời gian và không gian Tải trọng là lượng tin tức đến yêu cầu chuyển đi trong một thời gian nhất định.
Ngành viễn thông thực hiện chức năng truyền đưa tin tức. Để quá trình sản xuất diễn ra thì phải có tin tức, mà mọi tin tức đều do khách hàng đem tới. Như vậy, có thể nói rằng nhu cầu về truyền đưa tin tức quyết định đến sự tồn tại của ngành viễn thông. Nhu cầu truyền đưa tin tức rất đa dạng nó không đồng đều cả về thời gian lẫn không gian, nó có thể có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, ở đâu có con người là ở đó có nhu cầu thông tin.Dịch vụ băng thông rộng của doanh nghiệp viễn thông 1.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò dịch vụ băng thông rộng của doanh nghiệp viễn thông - Khái niệm Trong lĩnh vực lưu trữ website, thuật ngữ “băng rộng” thường được sử dụng để mô tả số lượng dữ liệu tối đa mà người dùng được phép trao đổi (bao gồm upload và download) qua lại giữa website (hoặc server) và người sử dụng trong một đơn vị thời gian (thường tính bằng giây). Trong viễn thông, khái niệm băng thông rộng được đề cập như sau: ”Băng thông rộng đề cập đến các công nghệ truyền tải dung lượng cao khác nhau được sử dụng để truyền dữ liệu, giọng nói và video qua khoảng cách xa và với tốc độ cao. Các phương tiện truyền dẫn phổ biến bao gồm cáp đồng trục, cáp quang và sóng vô tuyến” (Quốc Hội, 2009) Dịch vụ băng thông rộng của doanh nghiệp viễn thông là các dịch vụ cung cấp cho khách hàng trên nền tảng băng thông rộng. Nó bao gồm dịch vụ cố định băng rộng và dịch vụ di động băng rộng.
- Đặc điểm của dịch vụ băng thông rộng Dịch vụ băng thông rộng là một trong những sản phẩm của dịch vụ viễn thông nên có có đầy đủ các đặc tính của sản phẩm dịch vụ viễn thông như sau: 11 + Tính vô hình của sản phẩm Sản phẩm dịch vụ băng thông rộng là hiệu quả của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận. Do vậy nó không phải là một vật phẩm cụ thể. Khách hàng không nhìn thấy, không nghe thấy, không sờ thấy, không ngửi thấy. Có nghĩa là sản phẩm dịch vụ băng thông rộng không hấp dẫn trực tiếp đến các giác quan của khách hàng.
Đây chính là một nhược điểm lớn của sản phẩm dịch vụ băng thông rộng vì khách hàng khó nhận thức được về chất lượng, công dụng, lợi ích và khách hàng khó bị hấp dẫn. Do vậy bán các dịch vụ băng thông rộng khó hơn, đòi hỏi nghệ thuật bán hàng cao hơn. + Quá trình tiêu dùng và cung cấp dịch vụ băng thông rộng xảy ra đồng thời, với sự tham gia của cả khách hàng và giao dịch viên Khi khách hàng đến quầy giao dịch thì quá trình mua bán và tiêu dùng bắt đầu xảy ra đồng thời. Do vậy người giao dịch viên đóng hai vai: Khai thác viên và người bán hàng.
Vậy họ phải được đào tạo cả hai lĩnh vực là nghiệp vụ khai thác và tâm lý giao tiếp, kỹ thuật bán hàng. Chất lượng dịch vụ băng thông rộng phụ thuộc vào tâm trạng của của giao dịch viên. Mối quan hệ giao tiếp giữa khách hàng và nhân viên có ảnh hưởng lớn đến tâm lý, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ băng thông rộng. + Dịch vụ băng thông rộng phải trải qua nhiều công đoạn ở các đơn vị khác nhau, địa phương khác nhau , đó là các công đoạn đi, đến, quá giang.
Như vậy, một nơi làm mất khách hàng thì các nơi khác cũng mất theo.