CHƯƠNG 1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Hoạt động của tàu biển (bao gồm cả tàu cá và tàu hàng) là một trong những nguồn nhân tạo đóng góp đáng kể vào sự ô nhiễm không khí, thông qua việc các ống khói phát thải của tàu (Hình 3). Chất lượng của tàu biển Việt Nam thường không cao, nhiều phương tiện đã quá cũ, lạc hậu, hiệu suất đốt cháy nhiên liệu thấp và chưa có hệ thống xử lý khí thải… nên đã phát thải nhiều khí độc như: SO2, CO2 , CO, NO2 , CxHy … Đặc biệt tại các thành phố cảng và ven biển do chúng sử dụng nhiên liệu nhựa đường kém chất lượng, có lượng khí thải như nitơ oxit (NO), dioxit lưu huỳnh (SO2) rất cao. Bên cạnh đó, những chất thải này cũng đã tạo ra những cơn mưa axit và những hạt bồ hóng nhỏ li ti trong không khí. Hình 3: Khói thải từ tàu [5] Tính đến tháng 12/2022, tổng số đội tàu biển Việt Nam là 1.477 tàu với tổng trọng tải khoảng 11,6 triệu DWT, tương ứng với lượng nhiên liệu xăng dầu tiêu thụ khoảng gần 4 triệu tấn/năm [6].
Có thể nói, đây chính là nguồn gây ra ô nhiễm cho vùng biển, ven biển và nhiều nơi, tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển, hủy hoại các nguồn tài nguyên biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người. Ngoài ra, bụi đất và các chất bụi có chứa một số hoá chất độc hại khi gặp gió sẽ bốc lên, phát tán vào không khí, gây ô nhiễm nội bộ cảng và vùng xung quanh, đọng lại trên thảm thực vật, tích tụ theo nước mưa rơi xuống, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người lao động và cư dân trong khu vực. Hoạt động cảng biển đã thải ra một lượng lớn khí thải và gây tác động tiêu cực đến môi trường không khí. Để đánh giá hiện trạng ô nhiễm không khí ở cảng biển Cái Mép thể hiện bằng các kết quả quan trắc chất lượng không khí tại cảng được trình bày trong phần giới thiệu cảng ở phần sau.
SVTH: Nguyễn Hồng Thư 6 1.1 Giới thiệu khu vực nghiên cứu 1.1 Điều kiện tự nhiên Cảng Cái Mép là một cụm cảng tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam. Điều kiện tự nhiên của cảng Cái Mép bao gồm: Địa hình: Khu vực cảng Cái Mép Vũng Tàu nằm trong vùng đồng bằng ven biển, có địa hình phẳng và chênh lệch độ cao không đáng kể. Cảng nằm trên bán đảo Cái Mép, giáp biển Đông Thủy văn: Cảng Cái Mép nằm ở vị trí gần khu vực biển Đông và biển Tây, nơi có mực nước biển dao động khá lớn, đặc biệt vào mùa mưa. Các con sóng thường xuyên ảnh hưởng đến hoạt động cảng và các tàu neo đậu Địa chất: Cảng Cái Mép nằm trên một khu vực đất đá vôi, đất phù sa, với độ cứng khác nhau.
Điều này có thể ảnh hưởng đến việc đào đất và xây dựng cơ sở hạ tầng của cảng Khí hậu: Cảng Cái Mép nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độ trung bình vào khoảng 25-27 o C. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, trong khi mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4. Các cơn bão thường xuyên ảnh hưởng đến hoạt động của cảng Độ sâu: Độ sâu của khu vực neo đậu tàu ở Cái Mép đạt từ 14-15 mét, đủ để đón nhận các tàu có tải trọng lớn và đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa quốc tế Tầm quan trọng kinh tế: Khu vực cảng Cái Mép Vũng Tàu là một trong những cảng biển quan trọng nhất của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc xuất nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa nông sản và công.
Tổng hợp lại, điều kiện tự nhiên của cảng Cái Mép đáp ứng các yêu cầu cơ bản để hoạt động cảng và vận tải hàng hóa trên tàu, tuy nhiên cần được quản lý và điều chỉnh cho phù hợp với các biến đổi của tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội trong thời gian tới.2 Kinh tế - xã hội Vị trí địa lý: Cảng Cái Mép được xem là cửa ngõ chính của Việt Nam nối với các nước châu Á và châu Âu. Với vị trí thuận lợi trên tuyến đường biển quốc tế, Cái Mép đã trở thành một trong những cụm cảng hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Cơ sở hạ tầng: Cảng Cái Mép đã được đầu tư xây dựng với một cơ sở hạ tầng hiện đại, bao gồm các bến cảng, kho bãi, đường băng, khuôn viên bãi đỗ xe, cơ sở vật chất và hệ thống vận chuyển hàng hóa đa dạng và linh hoạt. Đầu tư nước ngoài: Cảng Cái Mép đã thu hút được sự quan tâm và đầu tư của nhiều tập đoàn lớn trên thế giới như APM Terminals, SSA Marine, CMA CGM, Cosco, OOCL, MSC.
Điều này cho thấy tiềm năng phát triển và tầm quan trọng của cảng Cái Mép đối với kinh tế quốc gia và khu vực. Nhu cầu thị trường: Cảng Cái Mép đáp ứng được nhu cầu thị trường về vận chuyển hàng hóa của nhiều quốc gia trên thế giới. Các loại hàng hóa được xử lý tại cảng Cái Mép bao gồm hàng hóa container, hàng lỏng, hàng khối, hàng rời. SVTH: Nguyễn Hồng Thư 7 Tài nguyên con người: Cảng Cái Mép được đánh giá là có tài nguyên con người đầy đủ, với lực lượng lao động trẻ, có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm trong lĩnh vực cảng.
Tổng hợp lại, điều kiện kinh tế xã hội của cảng Cái Mép đóng vai trò rất quan trọng trong việc thu hút đầu tư, phát triển kinh tế, tạo ra việc làm, đóng góp vào ngân sách nhà nước và nâng cao đời sống người dân trong khu vực.2 Giới thiệu về cảng Tân cảng Cái Mép Cảng Quốc tế Tân Cảng - Cái Mép (gọi tắt là TCIT) là liên doanh giữa Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn với 03 đối tác nước ngoài bao gồm hãng tàu MOL của Nhật Bản, hãng tàu Wan Hai của Đài Loan và hãng tàu Hanjin của Hàn Quốc (hiện nay là Công ty Hanjin Transportation) được Chính phủ Việt Nam cấp giấy chứng nhận vào tháng 9/2009 với tổng vốn đầu tư 100 triệu đô la Mỹ (tương đương với 2000 tỷ đồng). Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 01/2011, TCIT nỗ lực mang đến cho khách hàng những dịch vụ cảng container đạt tiêu chuẩn quốc tế. Với vị thế cảng nước sâu nằm gần ngã ba sông Thị Vải-Cái Mép, cách trạm hoa tiêu Vũng Tàu 18 hải lý, TCIT là điểm trung chuyển rất thuận lợi cho hàng hoá giao thương giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các thị trường xuất nhập khẩu chủ đạo của Việt Nam là Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á… Luồng chạy tàu có độ sâu âm 14 mét; độ sâu khu vực bến cảng âm 16,8 mét; vũng quay tàu rộng 500 mét, thích hợp cho việc phục vụ các siêu tàu trọng tải lên đến 160.000 DWT (tương đương với 14. Hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị cảng được đầu tư hiện đại với 03 cầu tàu dài 890 mét, 03 bến sà lan dài 270 mét, bãi container rộng 55 ha với sức chứa gần 51.500 teu; 10 cẩu bờ STS, 22 cẩu bãi e-RTG, 03 cẩu chuyên dụng cho sà lan, 76 xe đầu kéo, 05 xe nâng hàng và 05 xe nâng rỗng cùng với công nghệ tiên tiến – TOPS (Terminal Operations Package - System) được cung cấp bởi Realtime Business Solutions - RBS/Úc.
Với sự hỗ trợ từ Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, nhà khai thác cảng lớn nhất Việt Nam và với 03 đối tác nước ngoài bao gồm hãng tàu MOL của Nhật Bản, hãng tàu Wan Hai của Đài Loan và hãng tàu Hanjin của Hàn Quốc (hiện nay là Công ty Hanjin Transportation), TCIT đang trên đà phát triển nhanh chóng và đã trở thành nhà khai thác cảng container đẳng cấp thế giới. Sứ mệnh của chúng tôi là cung cấp các dịch vụ đáng tin cậy và cạnh tranh nhất cho khách hàng, đồng thời tập trung vào việc đảm bảo an toàn và phát triển bền vững, thân thiện với môi trường.[7] * Thông tin chung của cảng Cái Mép: Cảng Cái Mép được quản lý bởi Công ty cổ phần Cảng Cái Mép (CMIT) thuộc thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Các dịch vụ và hoạt động: Cảng cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận tải hàng hóa và logistics bao gồm xếp dở, bốc xếp, lưu trữ và vận chuyển hàng hóa. Chuyên xử lý container và trung chuyển hàng hóa đi và đến các khu vực trong nước, quốc tế.
Cảng Cái Mép có tổng diện tích lên đến 48ha với chiều dài bến 600m.Tiếp nhận tàu container với trọng tải 80.000 DWT, công suất 600.000 TEU mỗi năm là SVTH: Nguyễn Hồng Thư 8 con số mà Cảng Cái Mép đạt được. Cảng Cái Mép có khả năng tiếp nhận tàu hàng có trọng tải đến 75.000 DWT, công suất 1,6-2 triệu tấn/năm [8]. Giới thiệu về mô hình GIZ Sử dụng mô hình tính toán GIZ để tính toán phát thải khí thải của các tàu, phương tiện bốc dỡ hàng hóa, xe tải trong cảng: Trong khuôn khổ Dự án "Phát triển bền vững cảng biển tại khu vực ASEAN" Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (viết tắt là GIZ) đã phát triển mô hình tính toán khí thải tại cảng biển nhằm dự báo và kiểm soát lượng khí thải tại các cảng chính ở các thành phố lớn trong khu vực Đông Nam Á nhằm hướng đến phát triển bền vững cảng biển. Mô hình tính toán khí thải từ cảng biển (GIZ) dựa trên cơ sở tính toán từ Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (US EPA - 2009) và tổ chức liên quan đến khí hậu khu vực cảng trên thế giới (World Ports Climate Initiative - WPCI).
Phương pháp này được đánh giá là phù hợp nhất với điều kiện số liệu hiện nay tại cảng và phương pháp này có độ tin cậy tốt hơn phương pháp đánh giá nhanh của Tổ chức Y tế Thế giới – WHO [9]. Công thức tính tải lượng khí thải như sau: E = P * LF *A * EF (2.1) Trong đó: E là tải lượng khí thải (g); P là công suất lớn nhất của phương tiện khảo sát (kW); EF là hệ số phát thải (g/kWh): là lượng khí thải mà 1 phương tiện phát thải khi chạy trên 1km đường. Hệ số phát thải phụ thuộc vào năm sản xuất loại phương tiện, vận tốc và nhiên liệu sử dụng. Hệ số phát thải đóng vai trò rất quan trọng trong việc tính toán phát thải của các chất ô nhiễm không khí.