CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực “là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên phạm vi một địa phương, một ngành hoặc một vùng chia theo địa giới hành chính” [23].
Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là nguồn lực con người của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển KT-XH. Theo nghĩa hẹp có thể lượng hóa bằng một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm. Nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực (đang tham gia lao động) và tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động), không gồm những người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu làm việc. Nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay kinh tế tri thức đang chi phối các hoạt động của nền kinh tế quốc dân thì con người trở thành động lực trực tiếp cho mọi sự phát triển. Các quan điểm về nguồn nhân lực - Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển toàn diện con người là cơ sở quan trọng nhất cho việc nghiên cứu nhân tố con người. Khi nói đến nhân tố con người là nói tới mặt hoạt động cơ bản nhất quyết định mọi thuộc tính, biểu hiện đặc trưng của con người. Sự tác động của con người Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 quyết định đến toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử.
Tiến bộ xã hội không phải là quá trình tự động mà phải thông qua hoạt động của con người trong xã hội. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy phát triển xã hội. Nhân tố con người vừa là phương tiện sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần vừa hoàn thiện ngay chính bản thân mình. Chỉ có nhân tố con người mới có thể làm thay đổi được công cụ sản xuất ngày càng phát triển với năng suất, chất lượng cao làm thay đổi quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác, nhằm mục đích ngày càng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho con người và cho xã hội.Mác thì con người trong lực lượng sản xuất phải ngày càng phát triển cao về trí tuệ, khỏe mạnh về thể chất, giầu có về tinh thần, trong sáng về đạo đức, linh hoạt và văn minh trong ứng sử.
Trong đó trí tuệ không chỉ là những tri thức trừu tượng mà trước hết là những năng lực chuyên môn được đào tạo và đào tạo lại trong quá trình sản xuất [15]. Khỏe mạnh về thể chất không chỉ đơn thuần là sự cường tráng về thể lực mà nó bao hàm trong đó sự phát triển về trí lực, tư chất thông minh và trí sáng tạo trong lao động học tập. Con người tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là một nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất bằng sức mạnh của trí tuệ và sức lực của cơ bắp, trong đó trí tuệ ngày càng chiếm ưu thế trong quá trình sản xuất. - Nguồn nhân lực trong lý thuyết tăng trưởng: Theo quan điểm của các nhà kinh tế học, tăng trưởng kinh tế là quá trình chuyển dịch đường giới hạn khả năng sản xuất, là quá trình biến đổi của các nguồn lực cơ bản phát triển kinh tế gồm: vốn tư bản, kỹ thuật, nhân lực và tài nguyên.
Trong đó nhân lực được xem như là nhân tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm cho xã hội. Vốn tư bản thuần nhất giá trị định lượng nhưng vốn nhân lực bao hàm cả hai giá trị định lượng, định tính và quyết định hiệu quả lao động [23]. Hiệu quả lao động đồng nhất khái niệm tăng năng suất lao động xã hội, là tiền đề cải tạo xã hội. Mặt khác hiệu quả lao động phản ánh sức khỏe, trình độ đào tạo chuyên môn kỹ thuật, khả năng tay nghề của lực lượng lao động.
Các nhà kinh tế học khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế đã đặc biết chú ý đến chất lượng lao động và vai trò của tiến bộ khoa học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 công nghệ. Nếu lao động chỉ đề cập đến số lượng sẽ không mang lại tăng trưởng, chỉ có tiến bộ công nghệ được lao động ứng dụng hiệu quả mới giải thích được sự gia tăng không ngừng. - Xu hướng phát triển của nguồn nhân lực: Giai đoạn hiện nay, con người không những muốn thoả mãn nhu cầu vật chất ngày càng nhiều và đa dạng mà còn mong muốn bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất, tạo sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng và bền vững. Để giải quyết được yêu cầu trên thì con người có trí tuệ mới là nhân tố quyết định thực hiện mục tiêu đó.
Trong thời đại mới nhân tố con người có tri thức ngày càng đóng vai trò quyết định hơn trong lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đối với người lao động hiện tại cũng như trong tương lai không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm sản xuất mà đồng thời phải kết hợp với tri thức khoa học mới có thể nâng cao năng suất lao động. Chức năng của con người đã và sẽ có những biến đổi to lớn, các thao tác trực tiếp của con người sẽ ngày càng ít, thay vào đó là sự sáng tạo và sự điều khiển gián tiếp vào các khâu trong quá trình sản xuất. Khoa học công nghệ là sản phẩm lao động trí tuệ của con người, nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực Khi đánh giá nguồn nhân lực, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách sử dụng chỉ tiêu cơ bản là đánh giá về số lượng và chất lượng, đồng thời xem xét các yếu tố phát triển và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. * Số lượng nguồn nhân lực: Là tổng số người tham gia hoạt động kinh tế và được chia theo các đặc trưng về tuổi, giới tính, dân tộc, tương quan giữa nguồn nhân lực với dân số. Qua đó chỉ ra tính cân đối theo giới, theo nhóm tuổi hay không và xu hướng thay đổi như thế nào trong tương lai. Số lượng nguồn nhân lực được xác định bởi chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng.
Ngoài ra còn được xác định như tỷ lệ % so với tổng dân số, tốc độ gia tăng bình quân. Theo từ điển thuật ngữ của Pháp (1977 – 1985) thì nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm [6]. Như vậy theo quan niệm này thì những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không muốn làm việc thì không được tính vào nguồn nhân lực xã hội. Còn một số Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 quốc gia khác lại xem nguồn nhân lực là toàn bộ dân số và có khả năng lao động, quan niệm này không có giới hạn về tuổi.
Ở Việt Nam theo cách xác định của Tổng cục Thống kê, thì cách xác định nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người chưa làm việc nhưng có nhu cầu tìm việc và sẵn sàng làm việc. Nguồn nhân lực còn được gọi với khái niệm lực lượng dân số tham gia hoạt động kinh tế. Nguồn nhân lực có thể được phân chia như sau: - Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư: Bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động, có khả năng và nhu cầu lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm và còn gọi là lực lượng lao động. - Nguồn nhân lực đang làm việc: Là số lao động trong các ngành kinh tế bao gồm lao động làm công ăn lương và lao động tự làm còn gọi là lao động tham gia hoạt động kinh tế.
- Nguồn nhân lực dự trữ: Bao gồm những người trong lực lượng lao động chưa có nhu cầu làm việc, chưa tham gia làm việc gọi là dân số không tham gia hoạt động kinh tế như người nội trợ, ốm đau, tàn tật và đi học. * Chất lượng nguồn nhân lực: Là trạng thái nhất định thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế mà còn phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội. Bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội [23].
Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật theo nhóm tuổi, theo giới tính, dân tộc là những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Ngoài ra chất lượng nguồn nhân lực còn thể hiện ở tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu chia theo các đặc trưng, thiên hướng ngành nghề. Tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực xét về mặt xã hội được thể hiện qua một số hệ thống chỉ tiêu chủ yếu sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 - Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe của dân cư: Sức khỏe là trạng thái thoải mái về chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là có bệnh tật hay không. Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.
Hiện trạng sức khỏe được đánh giá như về chiều cao, cân nặng, tình trạng thị lực, tai mũi họng, thần kinh, nội ngoại khoa. và có thể chia theo 3 cấp độ tốt - trung bình - yếu. Bên cạnh việc đánh giá sức khỏe của người lao động người ta còn nên ra các chỉ tiêu đánh giá sức khỏe của quốc gia qua các nhóm chỉ tiêu tổng hợp, chỉ tiêu y tế cơ bản, chỉ tiêu về tình hình bệnh tật cụ thể như sau: + Tuổi thọ trung bình. + Chiều cao, cân nặng trung bình của thanh niên.